TPHCM đặt mục tiêu giảm mạnh bệnh lao, tiến tới chấm dứt vào 2030

TPHCM tăng cường tầm soát lao, đặt mục tiêu giảm mạnh tỷ lệ mắc và tiến tới chấm dứt bệnh lao vào năm 2030.

Trong giai đoạn 2026–2030, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ thực hiện tầm soát chủ động để tăng cường phát hiện người mắc lao trong cộng đồng; đồng thời đặt mục tiêu giảm tỷ lệ mắc lao xuống dưới 20/100.000 dân, tiến tới chấm dứt bệnh lao vào năm 2030. Đây là nội dung đáng chú ý tại Hội thảo “Báo cáo kết quả dự án 5 năm 2020–2025 và kế hoạch tăng cường hoạt động phòng, chống lao giai đoạn 2026–2030 tại Thành phố Hồ Chí Minh” diễn ra ngày 23/3.

1774256596781-lao1111.jpg
Thăm khám bệnh nhân lao. Ảnh minh họa

Theo số liệu thống kê, Thành phố Hồ Chí Minh hiện là địa phương có gánh nặng bệnh lao lớn nhất cả nước. Năm 2025, Thành phố phát hiện và điều trị hơn 16.000 ca mắc lao, chiếm 23% tổng số ca trong khu vực phía Nam và 14% tổng số ca trên toàn quốc. Trước thực tế này, việc đẩy mạnh tầm soát và phát hiện sớm được xác định là giải pháp trọng tâm.

Trong những năm qua, Thành phố đã triển khai nhiều biện pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống lao. Nổi bật là việc đưa vào sử dụng các hệ thống X-quang lưu động tại cộng đồng, giúp phát hiện nhanh các tổn thương phổi nghi lao mà không cần người dân phải đến cơ sở y tế.

Cùng với đó, công nghệ GeneXpert được áp dụng để phân tích mẫu bệnh phẩm, giúp xác định sự hiện diện của vi khuẩn lao cũng như tình trạng kháng thuốc trong thời gian ngắn. Điều này góp phần nâng cao độ chính xác trong chẩn đoán và rút ngắn thời gian điều trị.

Đặc biệt, Thành phố đã ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đọc phim X-quang nhằm nhận diện các tổn thương nghi lao với độ chính xác cao. Công nghệ này hỗ trợ hiệu quả cho công tác sàng lọc ban đầu, nhất là trong bối cảnh số lượng người cần kiểm tra lớn.

Song song với ứng dụng công nghệ, các chương trình tầm soát lao chủ động tại cộng đồng được triển khai thường xuyên, tập trung tại các khu vực đông dân cư, khu công nghiệp và nhóm nguy cơ cao. Đây là giải pháp then chốt giúp phát hiện sớm ca bệnh tiềm ẩn, hạn chế nguy cơ lây lan.

Dự án “Hoạt động can thiệp dự phòng, tìm kiếm ca bệnh và kết nối điều trị trong Chương trình chống lao giai đoạn 2020–2025” đã được triển khai rộng khắp trên địa bàn Thành phố. Theo bác sĩ Nguyễn Hữu Lân, Giám đốc Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, trong 5 năm qua, dự án đã sàng lọc hơn 731.000 người, thực hiện hơn 713.000 ca chụp X-quang phổi, qua đó phát hiện và điều trị cho hàng trăm ca lao các thể.

Không chỉ dừng lại ở bệnh lao, dự án còn mở rộng tầm soát các bệnh không lây nhiễm như cao huyết áp (hơn 25.000 người), đái tháo đường (hơn 15.000 người) và các bệnh phổi mạn tính như hen, COPD. Việc kết hợp này giúp nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe toàn diện và tối ưu nguồn lực y tế cơ sở.

Một điểm đáng ghi nhận là sự phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa hệ thống y tế công lập và tư nhân. Thông qua đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng cơ chế phối hợp, các cơ sở y tế tư nhân đã tham gia tích cực hơn vào công tác sàng lọc, chẩn đoán và điều trị lao, góp phần hình thành mạng lưới chăm sóc liên tục cho người bệnh.

Trong giai đoạn 2026–2030, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục đẩy mạnh tầm soát chủ động với thông điệp “Phát hiện lao gắn với khám sức khỏe định kỳ cho mỗi người dân”. Các hoạt động sẽ tập trung vào nhóm nguy cơ cao như người sống chung với HIV, người mắc bệnh tiểu đường, người cao tuổi và người sống tại khu vực có mật độ dân cư cao.

Bên cạnh đó, Thành phố tiếp tục mở rộng phạm vi triển khai, bao gồm cả các khu vực đặc thù như đặc khu Côn Đảo. Đồng thời, nhiều công nghệ mới sẽ được thí điểm như Pluslife và ống nghe tích hợp trí tuệ nhân tạo trong tầm soát lao cho cả trẻ em và người lớn, cũng như sàng lọc các bệnh phổi sau lao.

Đánh giá về kết quả đạt được, bà Melissa Anne Brown, Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng Thành phố cần tiếp tục phát huy kinh nghiệm thực tiễn, tối ưu nguồn lực và triển khai các giải pháp hiệu quả hơn trong thời gian tới. Bà cũng khẳng định Hoa Kỳ sẽ tiếp tục đồng hành, hỗ trợ Việt Nam trong nỗ lực phòng, chống và tiến tới chấm dứt bệnh lao.

Với định hướng rõ ràng, giải pháp đồng bộ và sự tham gia của nhiều bên, Thành phố Hồ Chí Minh đang từng bước kiểm soát gánh nặng bệnh lao, hướng tới mục tiêu giảm mạnh tỷ lệ mắc và chấm dứt bệnh vào năm 2030.

Bộ Y tế đề xuất cách ly y tế bắt buộc với 9 bệnh truyền nhiễm

Bộ Y tế lấy ý kiến dự thảo, đề xuất cách ly y tế bắt buộc với một số bệnh truyền nhiễm nhằm kiểm soát dịch hiệu quả.

Bộ Y tế đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng bệnh, trong đó đề xuất cụ thể các quy định về cách ly y tế, đặc biệt là áp dụng bắt buộc đối với một số bệnh truyền nhiễm nhằm kiểm soát dịch hiệu quả.

cach-ly-01-1557.jpg
Ảnh minh họa

Theo dự thảo, có 9 bệnh truyền nhiễm bắt buộc phải thực hiện cách ly y tế gồm: bạch hầu, ho gà, sởi, rubella, bệnh than, viêm màng não do não mô cầu, tay chân miệng, thủy đậu và quai bị. Đây là những bệnh có khả năng lây lan nhanh trong cộng đồng, cần được kiểm soát chặt chẽ để hạn chế nguy cơ bùng phát dịch.

Ngoài danh mục này, các bệnh truyền nhiễm nhóm B khác cũng có thể được áp dụng cách ly y tế theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế, căn cứ vào tình hình dịch tễ thực tế.

Dự thảo không chỉ áp dụng đối với người mắc bệnh mà còn mở rộng đối tượng phải cách ly. Cụ thể, 4 nhóm đối tượng gồm: người mắc bệnh, người nghi ngờ mắc bệnh, người mang mầm bệnh và người tiếp xúc với tác nhân gây bệnh đều thuộc diện phải thực hiện cách ly y tế. Quy định này nhằm chủ động kiểm soát nguồn lây ngay từ sớm.

Về hình thức, dự thảo quy định các phương án cách ly phù hợp với từng điều kiện. Bao gồm: cách ly tại nhà hoặc nơi lưu trú do Chủ tịch UBND cấp xã quyết định; cách ly tại cơ sở khám chữa bệnh do người đứng đầu cơ sở y tế quyết định; cách ly tại cửa khẩu do cơ quan phụ trách cửa khẩu quyết định; cùng các hình thức khác theo yêu cầu thực tế.

Trong trường hợp cần thiết, dự thảo cho phép trưng dụng các cơ sở, địa điểm khác để phục vụ cách ly y tế như trường học, ký túc xá, doanh trại quân đội, công an, khách sạn, nhà nghỉ, cơ sở lưu trú, nhà máy, xí nghiệp và các khu chung cư. Quy định này nhằm bảo đảm năng lực đáp ứng khi số lượng người cần cách ly tăng cao.

Thời gian cách ly đối với từng bệnh sẽ được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại bệnh và tình hình dịch bệnh.

Một điểm đáng chú ý là dự thảo đưa ra quy trình xử lý với các mốc thời gian cụ thể, tính bằng giờ. Theo đó, trong vòng 3 giờ kể từ khi phát hiện trường hợp cần cách ly, cơ quan y tế cấp xã phải lập danh sách đề xuất cách ly tại nhà. Trong 1 giờ tiếp theo, Chủ tịch UBND cấp xã phải ban hành quyết định cách ly. Sau đó, trong vòng 3 giờ, các lực lượng liên quan phải được thông báo và tổ chức triển khai thực hiện.

Tại các cơ sở khám chữa bệnh và cửa khẩu, quy trình cũng được rút ngắn, yêu cầu hoàn tất từng bước như lập danh sách, phê duyệt và tổ chức cách ly trong vòng 1 giờ cho mỗi khâu. Việc quy định rõ thời gian nhằm giảm thiểu độ trễ trong phản ứng, nâng cao hiệu quả kiểm soát dịch bệnh.

Bên cạnh đó, dự thảo bổ sung cơ chế “ngăn chặn tạm thời”. Trong tình huống khẩn cấp, người đứng đầu cơ quan y tế hoặc đơn vị liên quan có quyền yêu cầu người nghi nhiễm không rời khỏi địa điểm trong thời gian tối đa 3 giờ để chờ quyết định chính thức. Biện pháp này góp phần hạn chế nguy cơ lây lan ra cộng đồng.

Dự thảo cũng đề xuất quy định cụ thể về cưỡng chế cách ly y tế. Theo đó, người thuộc diện phải cách ly nhưng không chấp hành sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, với sự tham gia của lực lượng công an cấp xã nhằm bảo đảm thực thi quy định.

Để bảo đảm tính khả thi, Bộ Y tế đề xuất ngân sách nhà nước sẽ chi trả cho hoạt động cách ly y tế theo quy định của Bộ Tài chính. Cơ chế này giúp giảm gánh nặng chi phí cho người dân, đồng thời tạo điều kiện để các địa phương triển khai đồng bộ.

Việc xây dựng các quy định chi tiết về cách ly y tế với danh mục bệnh cụ thể, quy trình rõ ràng và cơ chế thực thi chặt chẽ được kỳ vọng sẽ nâng cao năng lực ứng phó dịch bệnh, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng một cách hiệu quả và bền vững.

Một người hiến tạng cứu sống nhiều bệnh nhân nhờ điều phối liên viện

Ca hiến tạng đặc biệt giúp nhiều bệnh nhân được ghép tim, gan, thận nhờ phối hợp liên viện chặt chẽ.

Ngày 21/03/2026, tại Bệnh viện E, một nam thanh niên 31 tuổi đã qua đời sau khi được chẩn đoán chết não. Trong thời khắc mất mát, gia đình anh đã đưa ra quyết định đầy nhân văn: hiến tạng của người thân để cứu sống những bệnh nhân khác.

Ngay sau khi gia đình đồng ý, vào 9h00 cùng ngày, các chuyên gia ghép tạng từ nhiều bệnh viện tại Hà Nội đã tham gia hội chẩn khẩn cấp. Cuộc hội chẩn trực tuyến liên viện do Trung tướng, PGS.TS Nguyễn Hoàng Ngọc – Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 chủ trì, nhằm đánh giá toàn diện tình trạng tạng hiến và xây dựng phương án điều phối tối ưu.

Sau gần hai giờ thảo luận, phương án phân bổ tạng được thống nhất: tim, gan phải và một quả thận được chuyển về Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; một quả thận được giữ lại ghép tại Bệnh viện E; phần gan trái được điều phối tới Bệnh viện Vinmec để ghép cho một bệnh nhi; phổi được chuyển đến Bệnh viện Phổi Trung ương; hai giác mạc được chuyển tới Bệnh viện Quân y 103.

hien-tang.jpg
Các bác sĩ mặc niệm tri ân người thanh niên hiến tạng trước ca mổ đặc biệt.

Đến 13h00, các ê-kíp của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 có mặt tại Bệnh viện E để phối hợp thực hiện ca lấy tạng. Đây là một quy trình phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên khoa và nhiều cơ sở y tế.

Toàn bộ quá trình được vận hành theo cơ chế điều phối liên tục, trong đó các mốc thời gian quan trọng như thời điểm kẹp động mạch chủ, thời điểm tạng rời cơ thể người hiến và hành trình vận chuyển đều được cập nhật theo thời gian thực. Tại các bệnh viện tiếp nhận, các ê-kíp ghép đã sẵn sàng, chờ tạng về để tiến hành phẫu thuật ngay.

Khoảng 16h00, trái tim được lấy ra và chỉ sau 28 phút đã được vận chuyển tới phòng mổ của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 để tiến hành ghép. Đây là khoảng thời gian vận chuyển nhanh, góp phần đảm bảo chất lượng tạng ghép.

Đến 16h25, gan được lấy ra và kịp thời chuyển về bệnh viện lúc 17h00. Từ nguồn gan hiến này, hai bệnh nhân đã được cứu sống, gồm một bệnh nhi tại Bệnh viện Vinmec và một phụ nữ 53 tuổi bị xơ gan mất bù tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

ht1.jpg
Kíp ghép thận tại Bệnh viện E.

Khoảng 16h45, thận được lấy và nhanh chóng vận chuyển đến các cơ sở ghép. Những chuyến xe cứu thương nối tiếp nhau di chuyển khẩn trương giữa các bệnh viện, đảm bảo tạng được đưa đến nơi tiếp nhận trong thời gian ngắn nhất.

Theo Trung tá, TS Lê Trung Hiếu – Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Ghép tạng, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, trong ca ghép này, đơn vị đảm nhiệm đồng thời nhiều vai trò: tiếp nhận và thực hiện ghép tim, gan, thận; triển khai kỹ thuật chia gan để ghép cho hai bệnh nhân tại hai bệnh viện; đồng thời cử ê-kíp hỗ trợ ghép thận tại Bệnh viện E.

Điểm nổi bật của ca hiến – ghép tạng lần này là việc tối ưu hóa nguồn tạng hiến. Theo Thượng tá, PGS.TS Vũ Văn Quang, kỹ thuật chia gan để ghép cho hai người là kỹ thuật phức tạp, nhưng đã được triển khai thường quy tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, giúp mở rộng cơ hội sống cho nhiều bệnh nhân.

Bên cạnh đó, sự phối hợp chuyên môn giữa các bệnh viện cũng được thể hiện rõ nét. TS Nguyễn Việt Hải cho biết các ê-kíp đã được phân công thực hiện ghép thận tại cả Bệnh viện E và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, bảo đảm các ca ghép diễn ra an toàn, chính xác. Sau ghép, chức năng thận của các bệnh nhân đều ổn định.

Các bệnh nhân ghép gan và tim hiện đang được theo dõi, chăm sóc tích cực để đảm bảo chức năng tạng ghép và quá trình hồi phục.

Theo các chuyên gia, thành công của ca hiến – ghép tạng này cho thấy hiệu quả của hệ thống điều phối liên viện trong việc tối ưu hóa nguồn tạng hiến, giúp cứu sống nhiều bệnh nhân hơn. Đồng thời, đây cũng là minh chứng cho sự phát triển của y học Việt Nam và giá trị nhân văn sâu sắc từ quyết định hiến tạng của gia đình người bệnh.

Từ một nghĩa cử cao đẹp, nhiều cuộc đời đã được hồi sinh, tiếp nối hành trình sống bằng chính món quà vô giá mà người hiến để lại.

Chuyện hy hữu: Sinh con ở tuổi 60 với nhiều bệnh lý nền phức tạp

Sản phụ 60 tuổi với nhiều bệnh nền được mổ lấy thai thành công, em bé 2,8kg chào đời an toàn.

Các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Trung ương vừa thực hiện thành công ca mổ lấy thai đặc biệt cho một sản phụ 60 tuổi, thuộc nhóm thai kỳ nguy cơ rất cao với nhiều bệnh lý nền phức tạp.

z7643370513699-e6a940dcdaf82c7f91feb0f48c7612e4-1116.jpg
Sản phụ được phẫu thuật lấy thai thành công.

Sản phụ nhập viện khi thai 38,2 tuần, tình trạng toàn thân tạm ổn định nhưng có nhiều yếu tố nguy cơ đáng lưu ý như tăng huyết áp mạn tính đang điều trị, đái tháo đường thai kỳ phải kiểm soát bằng insulin hàng ngày. Ngoài ra, bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật sản phụ khoa gồm mổ mở chửa ngoài tử cung và mổ tách dính buồng tử cung.

Ở tuổi 60, việc mang thai và sinh nở trở thành thách thức lớn đối với hệ tim mạch, nội tiết cũng như khả năng hồi phục của cơ thể. Do đó, trong suốt thai kỳ, các bác sĩ đã theo dõi chặt chẽ và chuẩn bị cho nhiều tình huống nguy cơ như tai biến tim mạch, đột quỵ do tăng huyết áp, rối loạn đường huyết trong và sau mổ, băng huyết, nhiễm trùng và hồi phục chậm.

Đặc biệt, tiền sử hai lần phẫu thuật khiến nguy cơ dính, tổn thương mô và chảy máu trong mổ tăng cao, đòi hỏi ê-kíp phải thực hiện thao tác chính xác, thận trọng. Trước giờ phẫu thuật, các chỉ số sinh tồn của sản phụ được kiểm soát ổn định với huyết áp 125/80 mmHg, mạch 85 lần/phút, đường huyết duy trì bằng insulin.

Trong suốt ca mổ, bên cạnh việc tập trung chuyên môn, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Ánh, Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương liên tục trò chuyện, động viên giúp sản phụ giảm căng thẳng.

Ca phẫu thuật diễn ra thuận lợi, em bé nặng 2,8kg chào đời với tiếng khóc to, phản xạ tốt. Ê-kíp thực hiện cắt dây rốn chậm cho trẻ ngay sau sinh. Đáng chú ý, em bé chào đời đúng ngày 20/3/2026.

Thành công của ca mổ cho thấy vai trò quan trọng của việc theo dõi thai kỳ sát sao và năng lực chuyên môn trong xử trí các trường hợp sản phụ lớn tuổi, nhiều bệnh lý nền, góp phần bảo đảm an toàn cho cả mẹ và bé.