Trong những năm tháng đất nước còn chiến tranh, điều kiện giảng dạy thiếu thốn, PGS.TS Vũ Gia Hanh cùng đồng nghiệp tìm kiếm động cơ cũ, tự tay sửa chữa thiết bị để dựng phòng thí nghiệm phục vụ sinh viên. Gần 40 năm đứng trên bục giảng, ông góp phần xây dựng nền móng đào tạo ngành Máy điện, đào tạo nhiều thế hệ kỹ sư tài năng cho đất nước. Đồng thời góp phần làm nên uy tín, thương hiệu của Đại học Bách khoa, ngôi trường Kỹ thuật hàng đầu cả nước.
Xây dựng phòng thí nghiệm máy điện đầu tiên của Việt Nam từ… đống sắt vụn
Tháng 3/1957, kỹ sư Vũ Gia Hanh trở về Việt Nam sau thời gian học tập tại Trung Quốc, nhận nhiệm vụ giảng dạy tại Đại học Bách khoa Hà Nội. Ngôi trường khi ấy đang trong những ngày đầu xây dựng, cơ sở vật chất còn nghèo nàn. Bốn tòa nhà ký hiệu A, B, C, D vốn là những cư xá cũ thời thuộc địa Pháp là một phần điều kiện vật chất ít ỏi phục vụ hoạt động đào tạo.
Được giao nhiệm vụ xây dựng Bộ môn Phát dẫn điện, ông sớm nhận ra rằng đào tạo kỹ thuật không thể chỉ dựa vào bài giảng lý thuyết. Sinh viên cần được tiếp xúc với thiết bị, được thực hành để hiểu nguyên lý vận hành của máy móc. Nhưng trong hoàn cảnh thiếu thốn lúc bấy giờ, việc xây dựng một phòng thí nghiệm đúng nghĩa là thách thức lớn.
Thay vì chờ đợi điều kiện thuận lợi, ông lặn lội đến các xí nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định tìm mua lại động cơ cũ và thiết bị đã bị loại bỏ. Những thứ tưởng như chỉ còn giá trị phế liệu được ông mang về, tự tay tháo dỡ, sửa chữa, quấn lại từng cuộn dây điện từ để khôi phục khả năng hoạt động.
Và rồi, dưới căn hầm tối tăm của tòa nhà C, phòng thí nghiệm máy điện đầu tiên của Việt Nam đã ra đời từ chính sự nỗ lực, quyết tâm của thầy trò trường Bách khoa. Căn hầm từng được sử dụng làm nơi giam giữ những người yêu nước chống đối trong thời kỳ Nhật thuộc địa trở thành không gian thực hành của những thế hệ sinh viên kỹ thuật.
Từ những thiết bị được phục hồi bằng bàn tay và kiến thức của người thầy, phòng thí nghiệm có thể vận hành bốn bài thí nghiệm cơ bản về máy điện xoay chiều và máy điện một chiều, phục vụ khóa sinh viên đầu tiên.
Đó không chỉ là giải pháp tình thế trước sự thiếu thốn về cơ sở vật chất. Việc tự tìm kiếm, sửa chữa và đưa thiết bị vào giảng dạy còn thể hiện cách tiếp cận thực tế của người làm công tác đào tạo kỹ thuật, muốn sinh viên nắm vững chuyên môn, nhà trường phải tạo điều kiện để lý thuyết gắn với thực hành.
Một buổi tối muộn tại căn hầm nhà C, thầy và trò bất ngờ vinh dự được đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới thăm. “Chứng kiến phòng thí nghiệm do thầy trò tự xây dựng, Thủ tướng dặn dò: “Các đồng chí tự tay xây dựng được phòng thí nghiệm thế này để dạy học là rất quý. Sau này, khi có sự giúp đỡ của các nước bạn như Liên Xô, chúng ta sẽ có những cơ sở khang trang, hiện đại hơn, nhưng tinh thần tự lực cánh sinh hôm nay của các đồng chí phải luôn được gìn giữ”. Lời động viên ấy trở thành điểm tựa tinh thần to lớn cho thầy trò vượt qua chiến tranh phá hoại ác liệt sau này”, ông chia sẻ.
Năm 1963, PGS.TS Vũ Gia Hanh sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh tại Học viện Năng lượng Moscow. Sau khi hoàn thành xuất sắc luận án Phó tiến sĩ năm 1966, ông được người thầy hướng dẫn tặng toàn bộ mô hình thí nghiệm máy điện tinh xảo cùng hệ thống tải điều khiển đi kèm và bộ sách chuyên ngành bằng tiếng Nga để mang về nước phục vụ giảng dạy.
Trở về Việt Nam giữa lúc miền Bắc chịu những đợt ném bom ác liệt, ông cùng đồng nghiệp tiếp tục công việc trong điều kiện sơ tán. Đại học Bách khoa Hà Nội phải chuyển lên các vùng rừng núi Lạng Sơn, Bắc Giang. Những hòm mô hình thí nghiệm được gùi trên lưng, lớp học dựng bằng tre nứa dưới hầm lò, nhưng việc đào tạo vẫn được duy trì.
Trong hoàn cảnh ấy, ông quyết định thành lập Bộ môn Máy điện và Khí cụ điện, một quyết định mang tính chiến lược, gắn với yêu cầu đào tạo chuyên môn sâu hơn, phù hợp với quy mô và nhu cầu phát triển công nghiệp của đất nước thời kỳ đó.
Cùng với xây dựng cơ sở thực hành, ông dành nhiều tâm huyết cho việc biên soạn giáo trình. Từ yêu cầu cấp thiết của những khóa sinh viên đầu tiên, ông tự dịch cuốn giáo trình máy điện dày bằng tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt để phục vụ giảng dạy. Sau đó, ông chủ trì biên soạn bộ giáo trình “Máy điện” bằng tiếng Việt đầu tiên cùng các kỹ sư trẻ, trong đó có thầy Phan Tử Thụ.
Bộ giáo trình được xây dựng theo hướng khoa học, logic, trở thành tài liệu phục vụ nhiều thế hệ sinh viên. Theo tư liệu, đến khi ông nhận quyết định nghỉ hưu vào tháng 9/1995, giáo trình đã được tái bản lần thứ tám. Sức sống của một cuốn sách chuyên ngành qua nhiều lần tái bản cũng cho thấy giá trị của công việc mà ông và các đồng nghiệp đã kiên trì thực hiện.
Gần 40 năm đứng trên bục giảng, PGS.TS Vũ Gia Hanh không chỉ tham gia xây dựng bộ môn, phòng thí nghiệm và tài liệu đào tạo, mà còn góp phần bồi dưỡng những kỹ sư có khả năng giải quyết các bài toán kỹ thuật trong thực tiễn.
Trong đó, có kỹ sư Nguyễn Thị Nguyệt, người đã tham gia thiết kế, chế tạo thành công các máy biến áp 110kV, 220kV và máy biến áp 500kV đầu tiên của Việt Nam, không cần trải qua quá trình đào tạo ở nước ngoài.
Hành trình từ người lính đến người thầy, nhà khoa học
Tuổi trẻ của PGS.TS Vũ Gia Hanh gắn với giai đoạn đầy biến động của đất nước. Ông sinh năm 1929 tại làng Mọc Giáp Nhất, vùng đất ven sông Tô Lịch thuộc Hà Nội xưa. Gia đình có năm đời gắn bó với quê hương; ông nội là nhà nho có uy tín trong vùng, còn cha là cụ Vũ Gia Tường, làm việc tại Sở Canh Nông.
Do đặc thù công việc của cha, gia đình ông từng sinh sống ở nhiều nơi. Thuở nhỏ, ông có ba năm ở Nha Trang, sau đó học tại Hải Phòng ở trường Bounan. Năm 1940, gia đình trở về Hà Nội, cậu học trò Vũ Gia Hanh theo học trường Thăng Long.
Tại đây, ông được học Lịch sử và Địa lý với thầy Võ Nguyên Giáp. Những bài giảng về lòng yêu nước của thầy Giáp đã để lại dấu ấn trong tâm trí người học trò trẻ, góp phần hình thành nhận thức của ông về vận mệnh đất nước.
Năm 1945, khi Cách mạng Tháng Tám diễn ra, ông tham gia Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành Hoàng Diệu. Trong những ngày hoạt động cách mạng, ông cùng đồng đội bí mật đi dán truyền đơn trên các toa xe điện chạy qua khu vực làng Giáp Nhất. Một khẩu súng trường Nhật do cô ruột Vũ Thị Túc tìm mua được ông cất giấu trên gác mái nhà.
Ngày 19/8/1945, khi lệnh tổng khởi nghĩa được ban bố, ông mang khẩu súng đến đình làng Giáp Nhất tham gia giành chính quyền. Sau đó, ông cùng đoàn biểu tình tiến qua Ngã Tư Sở, vượt khu vực Gò Đống Đa, tham gia tước vũ khí của chính quyền thân Nhật và tiến về Phủ Khâm sai Bắc Kỳ.
Những trải nghiệm ấy đưa người thanh niên vào một giai đoạn đặc biệt của lịch sử dân tộc. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ đêm 19/12/1946, ông quyết định rời việc học để tham gia kháng chiến.
Nhờ sự nhanh nhẹn, tháo vát, ông được tuyển làm liên lạc viên đặc biệt thuộc Văn phòng Bộ Tổng chỉ huy của Tiểu đoàn 500, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Công việc đòi hỏi sự cẩn trọng và khả năng vượt qua những địa bàn nguy hiểm. Ông mang theo chiếc xắc cốt đựng công văn đóng dấu mật, băng rừng lội suối để chuyển mệnh lệnh quân sự tới các chiến khu Hai, Ba, Bốn.
Năm 1948, ông được cử đến Phú Thọ học tại Trường Trung học kháng chiến Đào Giã. Trong môi trường học tập giữa thời chiến, ông được các thầy giáo, trong đó có thầy Ngô Thúc Lanh, truyền đạt kiến thức để tiếp tục con đường học vấn.
Tốt nghiệp trung học năm 1950, ông thi đỗ khóa 4 Trường Đại học Y khoa kháng chiến do Giáo sư Hồ Đắc Di làm hiệu trưởng. Tuy nhiên, sau một tháng học tập, khi lệnh tổng động viên được ban bố, ông gia nhập quân đội, công tác tại Quân y viện 3 với nhiệm vụ trợ lý gây mê ở phòng mổ dã chiến trong rừng sâu Yên Thế, phục vụ chiến dịch Hoàng Hoa Thám.
Tháng 8/1951, chiến dịch kết thúc. Giáo sư Hồ Đắc Di thông báo triệu tập những sinh viên giỏi toán trở về Chiêm Hóa, Tuyên Quang để tham gia Trường Khoa học Cơ bản do Giáo sư Lê Văn Thiêm sáng lập. Sau đó, để bảo đảm an toàn, nhà trường được chuyển sang Khu học xá Trung ương tại Nam Ninh, Trung Quốc.
Ông cùng năm người bạn được giao nhiệm vụ vận chuyển tài liệu, giáo trình bằng đường thủy. Họ vào rừng chặt nứa, đan thành bè để vượt sông Lô trong mùa nước lũ. Trên hành trình gian nan ấy, những người trẻ cùng cất tiếng hát bài “Trường ca Sông Lô”. Giai điệu đó trở thành ký ức theo ông suốt những năm tháng về sau.
Tại bến Bình Ca, ông gặp lại cha đang đi công tác. Cụ Vũ Gia Tường trao cho con chiếc nhẫn vàng để phòng thân nơi đất khách. Đó cũng là lần cuối cùng hai cha con gặp nhau trước khi cụ qua đời trong những năm kháng chiến gian khổ ở quê nhà.
Sang Trung Quốc, ông tiếp tục học tập trong điều kiện thiếu thốn. Lớp học dựng tạm bằng tre nứa, nước sinh hoạt khan hiếm, phải lấy từ ao tù rồi đánh phèn để sử dụng. Sau hai năm rưỡi học tập xuất sắc tại Trường Khoa học Cơ bản, ông được lựa chọn học đại học chính quy tại Đại học Triết Giang ở Hàng Châu, theo ngành Phát dẫn điện.
Trong môi trường mới, ông chủ động đề xuất ở chung phòng với sinh viên Trung Quốc, cùng sinh hoạt và tham gia các phong trào lao động của sinh viên nước bạn. Ông cũng tự học nhạc, học hát và học đàn. Từ vốn nhạc lý đã biết, ông tìm mua sách nhạc Trung Quốc có in các bài hát quan họ Việt Nam để luyện tập, rồi dùng tiếng đàn giao lưu, dạy sinh viên Trung Quốc hát dân ca Việt Nam.
Tháng 3/1957, khi đang thực tập tại các nhà máy cơ khí điện lực lớn của Trung Quốc sau khi tốt nghiệp kỹ sư xuất sắc, ông nhận quyết định khẩn yêu cầu trở về nước giảng dạy tại Đại học Bách khoa Hà Nội.
Từ đây, con đường của ông chuyển sang một nhiệm vụ khác. Ông đã trở thành một nhà khoa học, một người thầy tâm huyết, tận hiến, góp sức đào tạo nhiều thế hệ đội ngũ kỹ sư tài năng, xây dựng nền móng cho ngành điện Việt Nam.
Bài viết nằm trong tuyến bài “Những nhà khoa học, những người thầy” nhằm tôn vinh những tên tuổi đã góp phần làm nên diện mạo, vị thế của nền khoa học, giáo dục Việt Nam, đồng thời lan tỏa những giá trị mà họ để lại cho các thế hệ hôm nay.