Ba đề xuất của PGS.TS Trần Quốc Bình về thúc đẩy nghiên cứu khoa học

PGS.TS Trần Quốc Bình nhấn mạnh vai trò của nghiên cứu cơ bản và liên ngành trong giải quyết các thách thức lớn của Việt Nam.

Trao đổi với PV Tri thức và Cuộc sống, PGS.TS Trần Quốc Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội cho hay, nghiên cứu cơ bản không đứng ngoài thực tiễn mà có thể tạo nền tảng tri thức, dữ liệu và phương pháp để giải quyết những bài toán lớn của đất nước. Tuy nhiên, cần cơ chế đầu tư đủ dài hạn và một hệ sinh thái kết nối nhà khoa học cơ bản với nghiên cứu ứng dụng, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.

pgsts-tran-quoc-binh-5303.jpg
PGS.TS Trần Quốc Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Ép nghiên cứu cơ bản luôn gắn với ứng dụng trước mắt có thể hạn chế đột phá tương lai

- Bộ Khoa học và Công nghệ vừa tổng kết Chương trình phát triển khoa học cơ bản giai đoạn 2017-2025 (Chương trình 562). Một trong những vấn đề đặt ra, là nghiên cứu cơ bản thường khó nhìn thấy hiệu quả ngay trước mắt. Từ thực tiễn triển khai, theo ông, làm thế nào để những nghiên cứu này thực sự góp phần giải quyết các bài toán thực tiễn, cấp thiết của Việt Nam?

PGS.TS Trần Quốc Bình: Đúng là nghiên cứu cơ bản khó có thể cảm nhận ngay được hiệu quả. Có nhiều nghiên cứu hôm nay tạo ra nền tảng tri thức, dữ liệu hoặc phương pháp mà nhiều năm sau mới hình thành công nghệ.

Nhưng điều đó không có nghĩa là nghiên cứu cơ bản đứng ngoài thực tiễn. Kinh nghiệm từ Chương trình 562 cho thấy có thể tạo ra một cầu nối giữa tri thức cơ bản và nhu cầu thực tiễn ngay từ khi thiết kế nhiệm vụ.

Ví dụ, nghiên cứu về đặc điểm trầm tích Holocen không chỉ nhằm hiểu lịch sử địa chất, mà còn được sử dụng để tái lập các sự kiện bão, lũ cực đoan và xây dựng bản đồ dự báo ngập lụt, tổn thương ở Tam Giang - Cầu Hai và đầm Thị Nại. Tương tự, nghiên cứu cơ bản về cơ chế trượt đất được kết hợp với viễn thám, AI và cơ học đất không bão hòa để hình thành bộ công cụ cảnh báo sớm trước 48 giờ tại một số khu vực vùng núi.

Vì vậy, để những nghiên cứu cơ bản thực sự góp phần giải quyết các bài toán thực tế, cần đặt nghiên cứu cơ bản trong một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó nhà khoa học cơ bản làm việc cùng nhà khoa học ứng dụng, kỹ sư, cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Khi đó, tri thức cơ bản sẽ có nhiều cơ hội được chuyển hóa thành công nghệ, dữ liệu, công cụ và chính sách.

Tuy nhiên, không nên ép nghiên cứu cơ bản phải luôn gắn liền với nghiên cứu ứng dụng hiện tại. Vì như vậy có thể làm hạn chế khả năng đột phá cho tương lai, là mục tiêu mà nghiên cứu cơ bản hướng tới. Chúng ta nên duy trì 2 luồng nghiên cứu cơ bản: một luồng hướng tới các bài toán ứng dụng và một luồng hướng tới những vấn đề mở, chưa thể hình dung ra ứng dụng cụ thể. 2 luồng nghiên cứu này vừa tồn tại song song, vừa bổ trợ cho nhau.

Năm nhóm bài toán lớn cần nền tảng khoa học cơ bản và liên ngành

- Qua quá trình triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, theo ông, đâu là những bài toán lớn của đất nước cần sự tham gia của khoa học cơ bản và nghiên cứu liên ngành để giải quyết căn cơ?

PGS.TS Trần Quốc Bình: Phần lớn những bài toán lớn của đất nước đều cần sự tham gia của khoa học cơ bản cùng với các nghiên cứu liên ngành. Chẳng hạn, với Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, có 5 nhóm bài toán mà Trường có thế mạnh để giải quyết.

Thứ nhất là biến đổi khí hậu và thiên tai. Đây là bài toán cần địa chất, địa mạo, khí tượng, thủy văn, sinh thái, viễn thám, trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu cùng tham gia.

Thứ hai là an ninh tài nguyên và môi trường, bao gồm tài nguyên nước, đất, khoáng sản, chất lượng môi trường, xử lý chất thải và phát triển kinh tế tuần hoàn.

Thứ ba là y sinh và sức khỏe cộng đồng. Ở đây cần sự kết nối giữa sinh học, y học, di truyền học, hóa học, khoa học vật liệu và công nghệ thông tin.

Thứ tư là đa dạng sinh học và hệ sinh thái, đặc biệt trong bối cảnh phát triển kinh tế phải đi cùng bảo tồn vốn tự nhiên.

Thứ năm là năng lượng, vật liệu mới và công nghệ xanh, bởi đây là nền tảng để Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ công nghệ.

Nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã nhấn mạnh rằng những bài toán lớn của Việt Nam trong hiện tại và tương lai không chỉ cần công nghệ, mà còn cần một nền tảng tri thức liên ngành đủ sâu và đủ rộng.

Tại Chương trình 562, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên đã đóng góp 12 đề tài cấp quốc gia, giải quyết các bài toán lớn của đất nước trên nhiều lĩnh vực, từ vật liệu, y - sinh đến địa chất, khí hậu, sinh thái.

sat-lo-viet-nam.jpg
Hình ảnh trong app “Sạt lở Việt Nam” của nhóm nghiên cứu do GS. Đỗ Minh Đức (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội) chủ trì, phát triển trên nền tảng AI, IoT và dữ liệu lớn, cảnh báo sớm giúp giảm rủi ro mùa bão lũ.

- Từ các kết quả đó, ông đánh giá thế nào về khả năng chuyển hóa tri thức khoa học thành sản phẩm, công cụ phục vụ thực tiễn?

PGS.TS Trần Quốc Bình: 12 nhiệm vụ mà Nhà trường đã triển khai trong khuôn khổ Chương trình 562 cho thấy khả năng chuyển hóa tri thức khoa học thành sản phẩm, công cụ phục vụ thực tiễn là hoàn toàn khả thi nếu nhiệm vụ được thiết kế đúng ngay từ đầu.

Bên cạnh các sản phẩm nghiên cứu cơ bản và đào tạo gồm 24 bài báo quốc tế, 29 bài báo trong nước, 23 thạc sĩ và 15 tiến sĩ, các nhiệm vụ đều đăng ký và đạt được các dòng sản phẩm định hướng ứng dụng rất đa dạng như: kit real-time PCR xác định nguy cơ dị ứng thuốc; vật liệu và thiết bị pilot xử lý hợp chất hữu cơ độc hại khó phân hủy; cơ sở dữ liệu mã vạch ADN của 200 loài côn trùng đặc hữu; WebGIS và các mô hình học máy về động thái, tích lũy carbon, bản đồ rủi ro tai biến, dự báo dòng chảy mùa cạn, cảnh báo trượt đất.

Như vậy, sản phẩm của nghiên cứu khoa học không nhất thiết chỉ là một thiết bị hay một sản phẩm thương mại. Nó có thể là một cơ sở dữ liệu, một mô hình dự báo, một thuật toán, một quy trình công nghệ, một bản đồ chuyên đề, một công cụ hỗ trợ ra quyết định hay một nền tảng để doanh nghiệp tiếp tục phát triển thành sản phẩm.

Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy từ prototype là kết quả của đề tài đến sản phẩm được sử dụng rộng rãi vẫn còn một khoảng cách lớn. Đây là giai đoạn cần sự tham gia mạnh hơn của doanh nghiệp, cơ quan quản lý và nguồn vốn cho hoàn thiện công nghệ.

Cần chuyển mạnh từ tư duy đặt hàng đề tài sang đặt hàng bài toán

- Từ khoảng cách ông nói, theo ông đâu là những điểm nghẽn lớn nhất và cần tháo gỡ?

PGS.TS Trần Quốc Bình: Từ kinh nghiệm thực tế, tôi thấy có hai khoảng cách lớn. Một là khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến công nghệ hoàn thiện. Nhà khoa học có thể tạo ra nguyên mẫu hoặc chứng minh được tính khả thi, nhưng để thành sản phẩm ổn định, sản xuất ở quy mô lớn, đáp ứng tiêu chuẩn và thị trường thì cần có nguồn lực và năng lực công nghệ rất lớn. Các nguồn lực và năng lực này được trông đợi từ doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp chỉ đầu tư, phân bổ chúng khi có một niềm tin về hiệu quả kinh tế và giá trị thực tiễn đo đếm được của kết quả khoa học.

1.jpg
Các sản phẩm khoa học công nghệ của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) được trưng bày tại Triển lãm công nghệ bán dẫn SEMIEXPO Vietnam 2025.

Cùng với đó, là khoảng cách về thời gian và nguồn lực. Nghiên cứu cơ bản và những bài toán lớn về môi trường, khí hậu, địa chất hay sinh học thường cần các bộ dữ liệu dài hạn, thiết bị lớn và quá trình nghiên cứu nhiều năm. Nếu chỉ đầu tư theo chu kỳ ngắn thì rất khó tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh.

Vì vậy, theo tôi cần ưu tiên cơ chế hỗ trợ liên tục từ nghiên cứu → nguyên mẫu → thử nghiệm → hoàn thiện → chuyển giao, thay vì kết thúc hỗ trợ ngay khi đề tài được nghiệm thu. Chương trình 562 là một nỗ lực trong việc thúc đẩy cơ chế này và những kinh nghiệm có được từ chương trình cần được đúc kết để triển khai trong giai đoạn mới.

- Theo ông, Việt Nam cần thay đổi cách đặt hàng, đầu tư cho nghiên cứu khoa học ra sao để các nhà khoa học có thể tham gia sâu hơn vào giải quyết những bài toán lớn của đất nước?

PGS.TS Trần Quốc Bình: Theo tôi, điều quan trọng nhất là chuyển từ tư duy đặt hàng đề tài sang đặt hàng bài toán. Tư duy này đang được hình thành trong quá trình triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Để các nhà khoa học có thể tham gia sâu hơn vào giải quyết những bài toán lớn của đất nước, chúng tôi có ba đề xuất.

Thứ nhất, đặt hàng theo bài toán lớn và theo chương trình dài hạn. Căn cứ danh mục các công nghệ chiến lược và sản phẩm chiến lược đã ban hành, Nhà nước cần xây dựng các chương trình nghiên cứu liên ngành 5-10 năm với đích đến là một hoặc một số sản phẩm chiến lược, trong đó có các nhiệm vụ thành phần với sự phân vai rõ ràng về khoa học.

Thứ hai, đầu tư theo chuỗi giá trị của tri thức. Không chỉ cấp tiền cho nghiên cứu ban đầu, mà phải có các gói kinh phí tiếp theo cho dữ liệu, thiết bị, nguyên mẫu, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ và chuyển giao.

Thứ ba, trao quyền chủ động lớn hơn cho các nhóm nghiên cứu mạnh. Kiến nghị giao các nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia trọng điểm với kinh phí phù hợp và thời gian đủ dài, 3-5 năm, với các giai đoạn cụ thể cho các nhóm nghiên cứu mạnh; đồng thời có các gói đầu tư cho phòng thí nghiệm và hỗ trợ tiến sĩ trẻ, sau tiến sĩ.

Bên cạnh chỉ số truyền thống về công bố khoa học, các chương trình định hướng giải quyết bài toán quốc gia cần có các chỉ số đánh giá về tri thức mới, dữ liệu, công nghệ, bằng sáng chế, sản phẩm thử nghiệm, mức độ sử dụng của cơ quan quản lý/doanh nghiệp và tác động kinh tế - xã hội.

Điều này hoàn toàn phù hợp với định hướng mới của Việt Nam: Nghị quyết 57-NQ/TW nhấn mạnh vừa đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, vừa chú trọng nghiên cứu cơ bản, hướng tới tự chủ và cạnh tranh công nghệ ở những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế.

Nếu chúng ta làm được như vậy, tri thức khoa học cơ bản sẽ trở thành nền tảng để Việt Nam giải quyết những bài toán lớn và từng bước làm chủ công nghệ.

PV: Trân trọng cảm ơn ông về những chia sẻ!

Trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với nhiều rủi ro thiên tai và tác động của biến đổi khí hậu, hiệu quả của các nghiên cứu về cảnh báo trượt đất, dự báo hạn hán, bão lũ là ví dụ cho thấy rất rõ giá trị thực tiễn của khoa học cơ bản thường nằm ở khả năng tạo ra hiểu biết sâu về quy luật tự nhiên, từ đó nâng cao năng lực dự báo và phòng ngừa.

Chẳng hạn, tại Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, nghiên cứu trượt lở đất của các nhà khoa học không chỉ lập bản đồ những nơi đã xảy ra trượt đất mà đi sâu vào cơ chế hình thành, đặc điểm động lực, ngưỡng mưa gây trượt đất, sau đó tích hợp viễn thám, trí tuệ nhân tạo và cơ học đất không bão hòa để xây dựng bộ công cụ cảnh báo sớm trước 48 giờ ở một số vùng nghiên cứu.

Với bão, lũ, việc nghiên cứu các dấu tích trong trầm tích Holocen cho phép chúng ta nhìn lại lịch sử thiên tai trong thời gian dài, từ đó hiểu được tần suất và mức độ của những sự kiện cực đoan mà chuỗi quan trắc hiện đại chưa đủ dài để phản ánh. Kết quả đã được phát triển thành các bản đồ dự báo ngập lụt cực trị và mức độ tổn thương.

Còn với hạn hán và nguồn nước, nghiên cứu của Trường đã xây dựng phương pháp và công nghệ dự báo dòng chảy mùa cạn với thời hạn 10 ngày, tháng và mùa đến biên giới Việt - Trung, đồng thời xây dựng WebGIS và các giải pháp giảm thiểu thiệt hại do thiếu hụt dòng chảy đối với sản xuất nông nghiệp và thủy điện.

“Việc dự báo nguy cơ thiên tai không chỉ hướng tới kết quả dự báo chính xác hơn, mà còn là việc chuyển kết quả dự báo thành hành động sớm hơn. Cụ thể là chính quyền biết khu vực nào có nguy cơ, người dân được cảnh báo, cơ sở hạ tầng được chủ động bảo vệ và các phương án ứng phó được kích hoạt trước khi thiên tai xảy ra”, PGS Bình cho hay.

Mời quý độc giả xem video: GS.TS.NGƯT Phan Văn Hạp chia sẻ" "Nếu được chọn lại, tôi vẫn chọn ngành Toán". Thực hiện: Mai Loan.

Bạn có thể quan tâm

Những ký ức về GS Lê Văn Thiêm - người thầy lớn, nhân cách lớn

Giáo sư Lê Văn Thiêm là nhà toán học tiên phong, nhà lãnh đạo sáng lập nhiều trường đại học, góp phần xây dựng nền khoa học đất nước.

Năm 1949, theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Giáo sư Lê Văn Thiêm về nước tham gia kháng chiến, công tác tại Sở Giáo dục Nam Bộ. Năm 1951, ông được Chính phủ điều động ra Việt Bắc, giao nhiệm vụ xây dựng Trường Khoa học Cơ bản và Trường Sư phạm Cao cấp, đồng thời giữ cương vị Hiệu trưởng hai trường tại Khu học xá Trung ương Nam Ninh (Trung Quốc) đến năm 1954.

Sau ngày giải phóng Thủ đô, ông được cử làm Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Khoa học, giữ cương vị này trong giai đoạn 1954–1956. Năm 1956, khi Chính phủ thành lập Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, GS Lê Văn Thiêm được cử làm Phó Hiệu trưởng, đồng thời kiêm Chủ nhiệm Khoa Toán.

GS Phan Văn Hạp: Người mở đường Toán học tính toán Việt Nam

e-gs-phanvanhap-1.jpg

Trong lịch sử giáo dục đại học Việt Nam thế kỷ XX, các sinh viên Khóa 1 Đại học Tổng hợp Hà Nội (1956) giữ một vị trí đặc biệt. Họ vừa là người góp sức đặt những viên gạch đầu tiên cho nền khoa học cơ bản nước nhà sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, vừa là chứng nhân cho một thời kỳ trí thức dấn thân, khao khát cống hiến và tận hiến cho Đất nước.