Chọn “bệ phóng công nghệ”, Việt Nam hái quả ngọt 50 tỷ USD ngành bán dẫn

Việt Nam cần lựa chọn “những ngách đủ rộng để tồn tại, nhưng đủ hẹp để làm chủ và phát triển”.

TS Bùi Xuân Minh, Trưởng nhóm nghiên cứu thiết kế bán dẫn và Công nghiệp 4.0, Đại học RMIT Việt Nam góp ý cho chiến lược phát triển ngành bán dẫn tại Việt Nam.

Chọn “bệ phóng công nghệ”, Việt Nam hái quả ngọt 50 tỷ USD ngành bán dẫn - Ảnh 1.

TS Bùi Xuân Minh, Trưởng nhóm nghiên cứu thiết kế bán dẫn và Công nghiệp 4.0, Đại học RMIT Việt Nam

Biến doanh nghiệp FDI thành đòn bẩy công nghệ

PV: Trở lại với bài toán giá trị giữ lại tại Việt Nam, dự định phát triển trung tâm R&D về AI tại Việt Nam lớn thứ 3 thế giới hay việc Samsung chuyển phần kiểm thử sang nước ta đều là lời gợi nhắc về khoảng cách rõ rệt giữa khu vực nội địa và khu vực FDI ngành bán dẫn. Làm sao để hai khu vực này tiến gần nhau hơn?

TS Bùi Xuân Minh: Theo tôi, khoảng cách giữa khu vực FDI và doanh nghiệp Việt Nam không thể thu hẹp chỉ bằng việc yêu cầu các tập đoàn FDI tăng tỷ lệ mua hàng trong nước.

Quan trọng hơn là phải tạo ra năng lực hấp thụ công nghệ, để doanh nghiệp Việt Nam từng bước trở thành đối tác công nghệ, R&D và cung ứng của các tập đoàn này.

Trường hợp Qualcomm là một cơ hội rất rõ. Trung tâm R&D tại Hà Nội tập trung ban đầu vào AI và system-on-chip (SoC), sau đó mở rộng sang phương tiện di động, IoT và các công nghệ tiên tiến khác.

Qualcomm cho biết đội ngũ kỹ sư Việt Nam sẽ trực tiếp tham gia thiết kế và phát triển công nghệ, đồng thời phối hợp với các nhóm R&D toàn cầu.

Vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam không nhất thiết phải cạnh tranh trực tiếp với Qualcomm về thiết kế SoC. Họ có thể tham gia từng bước ở các khâu như thiết kế sở hữu trí tuệ (IP), kiểm tra đánh giá chip (verification), hệ thống nhúng (embedded system), thuật toán AI (AI algorithms), và tích hợp hệ thống (system integration).

PV: Trong trường hợp này, các chính sách kiến tạo của Nhà nước sẽ đóng vai trò như thế nào?

TS Bùi Xuân Minh: Nhà nước cần tạo cơ chế để những kết nối này trở thành dự án R&D thực chất, thay vì chỉ dừng ở bản ghi nhớ hợp tác (MOU). Việc Chính phủ thành lập Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn là một bước đi đáng chú ý. Trung tâm được thiết kế để kết nối viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và startup với các cơ sở chế tạo wafer, đóng gói và kiểm thử; đồng thời hỗ trợ EDA, MPW và sản xuất thử.

Đặc biệt, trung tâm đã ký hợp tác với các doanh nghiệp quốc tế như Intel, Infineon, Amkor, Cadence và Synopsys cùng các doanh nghiệp Việt Nam.

Tôi cho rằng đây chính là mô hình cần mở rộng: Qualcomm cung cấp công nghệ, tiêu chuẩn và thị trường; trường đại học và viện nghiên cứu cung cấp nhân lực và nghiên cứu; doanh nghiệp Việt Nam đảm nhận các module, IP, phần mềm và giải pháp ứng dụng; Nhà nước cung cấp hạ tầng dùng chung và cơ chế đồng tài trợ.

Khi đó, sự hiện diện của FDI sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa công nghệ thực chất, giúp doanh nghiệp Việt Nam đi từ làm nhà cung cấp đến đồng phát triển, sở hữu IP và sản phẩm của riêng mình.

Điều này cũng phù hợp với định hướng của Chính phủ năm 2026 về tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và khu vực trong nước và phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành bán dẫn.

Vì vậy, mục tiêu cuối cùng không phải là thay thế FDI, mà là biến FDI thành đòn bẩy để nâng cấp năng lực công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam.

Công nghệ tiên tiến nhất chưa chắc là cơ hội kinh doanh tốt nhất

PV: - Trong ngành bán dẫn, để doanh nghiệp Việt xây dựng được nền tảng, lớn mạnh và theo kịp các doanh nghiệp nước ngoài, phải có được sản phẩm và tạo lập được thị trường. Lựa chọn ở đây phải chăng là cố gắng tham gia và làm chủ ở những dòng sản phẩm không còn là ưu tiên?

TS Bùi Xuân Minh: Theo tôi, đây là một hướng đi đúng, nhưng không nên hiểu là Việt Nam chỉ nên làm những sản phẩm "lỗi thời" mà các tập đoàn lớn không còn ưu tiên. Cách tiếp cận phù hợp hơn là lựa chọn những phân khúc có thị trường đủ lớn, Việt Nam có khả năng xây dựng năng lực và có thể từng bước làm chủ công nghệ.

Chọn “bệ phóng công nghệ”, Việt Nam hái quả ngọt 50 tỷ USD ngành bán dẫn - Ảnh 2.

Doanh nghiệp Việt Nam không nhất thiết phải cạnh tranh trực tiếp với Qualcomm về thiết kế SoC

Trong bán dẫn, công nghệ tiên tiến nhất không phải lúc nào cũng là cơ hội kinh doanh tốt nhất. Các sản phẩm như chip điều khiển, chip công nghiệp, ô tô và IoT vẫn có nhu cầu lớn và nhiều ứng dụng có thể sử dụng các công nghệ chế tạo trưởng thành.

Chiến lược phát triển bán dẫn của Việt Nam cũng định hướng phát triển chip chuyên dụng, thay vì cạnh tranh trực tiếp với các quốc gia đang dẫn đầu về các chip logic tiên tiến.

PV: Ông có lời khuyên gì cho doanh nghiệp Việt Nam để hiện thực hóa giải pháp này?

TS Bùi Xuân Minh: Điều quan trọng là không dừng ở những sản phẩm đơn giản. Việt Nam nên coi đây là "bệ phóng công nghệ": bắt đầu từ thiết kế IP, kiểm tra thiết kế (verification) và chip chuyên dụng; sau đó tiến lên SoC, tích hợp AI, đóng gói và kiểm thử nâng cao (advanced packaging and testing). Mục tiêu của Chính phủ đến năm 2030 là hình thành ít nhất 100 doanh nghiệp thiết kế chip và 10 cơ sở đóng gói, kiểm thử.

Đồng thời, cần tạo cơ chế để FDI và các tập đoàn tư nhân lớn "kéo" doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị thông qua đặt hàng R&D, đồng phát triển IP, đào tạo kỹ sư và hỗ trợ tiếp cận công cụ thiết kế (EDA, PDK). Trung tâm hỗ trợ sản xuất thử chip quốc gia cũng có thể đóng vai trò cầu nối quan trọng giữa doanh nghiệp Việt Nam, trường đại học và các đối tác quốc tế.

Tóm lại, tôi cho rằng Việt Nam cần lựa chọn "những ngách đủ rộng để tồn tại, nhưng đủ hẹp để làm chủ và phát triển". Từ những thị trường này, doanh nghiệp có thể tích lũy vốn, nhân lực, IP và kinh nghiệm, rồi từng bước tiến lên các sản phẩm bán dẫn có giá trị gia tăng cao hơn.