“Tuổi 54, chưa lấy vợ nhưng không nghĩ mình phải hy sinh hạnh phúc riêng”
11h30 trưa, phòng ăn của trường dạy nghề KOTO bắt đầu nhộn nhịp. Jimmy Phạm nhanh chóng đứng vào vị trí chia cơm, cẩn thận xới từng phần ăn cho hàng trăm học viên.
Những chiếc bát chống nóng ở đây đều khá lớn. Các học viên kể vui rằng từ ngày về KOTO, nhiều em tăng cân vì cơm ngon, khẩu phần đầy đặn. Jimmy cười: “Phải ăn như vậy mới có sức học và làm việc”.
Nghề dịch vụ khá vất vả. Hầu như phải đến 3h chiều, khi nhà hàng KOTO ở Văn Miếu vãn khách ăn trưa, học viên mới được nghỉ ngơi, ăn uống. “Sức khỏe là yếu tố đầu tiên để theo nghề”, Jimmy nhấn mạnh.
Mỗi lần tới trường, dù bận đến đâu, anh cũng cố gắng tự tay nấu ít nhất một bữa cho các em. Với Jimmy, đó là cách người anh cả chăm sóc gia đình, đồng thời làm gương cho những người trẻ bằng hành động.
Hơn 27 năm gắn bó với KOTO, Jimmy chứng kiến nhiều đứa trẻ đi lên từ tận cùng khốn khó, trở thành đầu bếp giỏi, quản lý nhà hàng, khách sạn, thậm chí gây dựng cơ sở kinh doanh riêng.
Những học viên ấy là niềm tự hào lớn nhất, và cũng mang đến cho anh những nỗi đau khó quên.
Jimmy kể về một học viên mồ côi cha mẹ, lớn lên trong cảnh cực kỳ khốn khó. Tốt nghiệp KOTO, người này trở thành đầu bếp cao cấp, có thu nhập tốt, đủ sức gánh vác cả gia đình. Giữa lúc sự nghiệp thuận lợi, người học trò bất ngờ gặp biến cố tâm lý nghiêm trọng và tìm đến Phật giáo như một chỗ dựa tinh thần.
Chứng kiến những thay đổi tích cực của học trò cũ sau thời gian tu tập tại Myanmar, Jimmy bắt đầu tìm hiểu đạo Phật, dù vốn là người Công giáo. Đó cũng là giai đoạn anh liên tiếp gặp khó khăn trong công việc và cuộc sống. Vì chưa hiểu đúng về giáo lý, Jimmy tìm đến các nghi lễ cúng bái với hy vọng hóa giải vận hạn, tiêu tốn không ít tiền bạc.
Nhưng những khó khăn vẫn tiếp diễn. Nhận ra mình đã sai trong cách thực hành Phật giáo, Jimmy dừng việc cúng bái, trở lại với Công giáo và tìm thấy sự bình an trong đức tin đã gắn bó từ nhỏ.
Dẫu vậy, những biến động ấy chưa phải cái giá lớn nhất Jimmy phải trả. Để gây dựng KOTO như hôm nay, anh đã đánh đổi nhiều nhất bằng chính sức khỏe và hạnh phúc riêng.
Công việc khiến Jimmy gần như không có lịch sinh hoạt cố định. Có những đêm, đến 1h30 sáng, anh vẫn ngồi trò chuyện, hướng dẫn học viên chuẩn bị đi thực tập. Những chuyến công tác liên tục khiến chuyện ăn uống, nghỉ ngơi thất thường.
Jimmy nói mình may mắn chưa mắc bệnh nền nghiêm trọng, nhưng cân nặng thường xuyên biến động. Có những ngày, vừa thức dậy, anh đã thấy khối lượng công việc phía trước vượt quá sức mình.
“Tôi luôn phải sống trong trạng thái cố gắng.”
Ở tuổi 54, Jimmy vẫn chưa lập gia đình, dù từng ba lần đứng trước cơ hội kết hôn.
Người phụ nữ đầu tiên làm trong ngành ngân hàng. Hai người có nhiều đồng cảm, từng hạnh phúc bên nhau nhưng cuối cùng không thể đi đến hôn nhân. Sau đó, anh quen một cô gái xinh đẹp, có tiếng tăm. Nhưng càng gắn bó, những khác biệt trong tính cách và quan niệm sống càng bộc lộ.
“Khi ngoài 20 tuổi, tôi chỉ nghĩ yêu người mình thích là được. Nhưng nhiều tuổi hơn, người ta bắt đầu nghĩ đến sự phù hợp. Càng đi với nhau nhiều, càng thấy khác biệt và tự hỏi nếu phải sống cả đời như vậy có ổn không?”
Ở mối quan hệ thứ ba, trở ngại lớn nhất đến từ công việc của anh. Jimmy hiểu rằng không dễ để một người phụ nữ chấp nhận người đàn ông của họ dành quá nhiều thời gian và tâm sức cho những người ngoài gia đình. Trong khi đó, KOTO đòi hỏi anh luôn sẵn sàng lên đường, làm việc và có mặt khi học viên cần.
“Ba lần đó, tôi thấy không phải do họ đâu, mà đều là do mình cả.”
Jimmy tự nhận mình là người đặc biệt, dù khác biệt chưa chắc đã tốt. Anh hiểu giới hạn của bản thân là tình yêu không thể chỉ dành riêng cho một người, mà luôn phải chia sẻ với cả cộng đồng.
“Tất cả đều có cái giá. Nhưng nếu được làm lại, tôi nghĩ mình cũng không thể chọn khác đi. Tôi xem đó như những vết sẹo khiến mình trưởng thành.”
Nếu lập gia đình trong thời gian tới, Jimmy nhẩm tính chỉ ba, bốn năm nữa sẽ phải nghỉ việc ở KOTO, hoặc cố gắng lắm cũng phải chuyển sang vai trò đại sứ thiện chí. “Thực ra tôi có thể làm song song, nhưng để thực hiện đúng cam kết và lời hứa với các em thì phải dồn toàn sức. Tôi nghĩ đến cuối hành trình này, khi KOTO vững vàng hơn, may ra, tôi có thể vừa lo cho hạnh phúc cá nhân, vừa tiếp tục đồng hành cùng các em.”
Dù sống độc thân đã nhiều năm, Jimmy vẫn không nghĩ cuộc đời mình sẽ mãi mãi như thế. Anh tin rằng: ngay cả khi già hơn nữa, mình vẫn có thể bắt đầu một gia đình.
Anh từng trải qua cảm giác chạnh lòng khi nhìn những người có bằng cấp, học vị cao. Rồi đến tuổi 48, Jimmy cũng lấy bằng đại học. Hai năm sau, anh có bằng thạc sĩ và đến tuổi 52 nhận bằng tiến sĩ danh dự.
Với Jimmy, tuổi tác không đáng ngại bằng việc tự cho rằng mình không còn có thể bắt đầu. Anh vẫn mong có một gia đình riêng, kinh tế ổn định, tiếp tục gìn giữ đức tin Công giáo, học thêm những điều mới và viết sách.
“Mọi người cứ nghĩ làm nghề này thì phải hy sinh đời tư, nhưng tôi không nghĩ vậy. Mỗi giai đoạn là một sự thay đổi”, anh nói.
“Không giữ của cải cho riêng mình, nhưng cũng không muốn người nghèo phải mang ơn”
“Tôi không giữ lại của cải cho riêng mình mà muốn để lại di sản hay đóng góp điều gì đó cho xã hội”, Jimmy Phạm nói khi được hỏi về dự định tuổi già.
Trước khi rời Việt Nam, anh muốn để lại một KOTO có thể tiếp tục vận hành và phát triển, với đội ngũ nhân sự, hệ thống đào tạo, chuỗi nhà hàng cùng uy tín được gây dựng suốt gần ba thập kỷ.
“Gần 30 năm qua, điều KOTO tự hào nhất là uy tín. Đầu ra của chúng tôi là những người trẻ có năng lực nghề nghiệp, thái độ tốt và sự tự tin để làm chủ cuộc sống.”
Jimmy kể, thời gian đầu, việc đưa học viên KOTO vào thực tập tại các khách sạn lớn không dễ dàng. Nhiều người cho rằng những người trẻ đi lên từ đáy xã hội, được nhận vào làm việc ở khách sạn 5 sao đã là một may mắn. Những thương hiệu danh tiếng ấy có thể làm đẹp hồ sơ nghề nghiệp, nên KOTO và các em phải biết ơn khi được trao cơ hội.
Jimmy không chấp nhận cách nghĩ đó. Với anh, năng lực lao động mới là thước đo để trả công, không phải xuất thân hay hoàn cảnh.
“Các khách sạn, dù sang trọng và danh tiếng đến đâu, muốn nhận học viên KOTO vào thực tập một, hai tuần cũng phải trả phí và lo đầy đủ chi phí đi lại, ăn ở cho các em.”
Ngay cả khi tuyển dụng chính thức, doanh nghiệp cũng phải trả phí 20 triệu đồng mỗi học viên.
“Khi đi săn người qua các công ty môi giới, doanh nghiệp cũng phải trả phí. Tại sao chúng tôi phải cung cấp miễn phí nhân sự tốt, trong khi KOTO là doanh nghiệp xã hội, có chi phí tái đầu tư rất lớn?”, Jimmy đặt vấn đề.
Theo anh, KOTO mất hai năm và vài trăm triệu đồng để đào tạo một học viên. Mức phí tuyển dụng 20 triệu đồng chủ yếu nhằm yêu cầu doanh nghiệp chia sẻ trách nhiệm.
Sau nhiều năm, vị thế của học viên KOTO đã đảo chiều. Theo Jimmy, danh sách doanh nghiệp đăng ký tuyển dụng đã kín đến hết năm 2028, những đơn vị mới phải chờ sang năm 2029.
Từ chỗ phải thuyết phục doanh nghiệp nhận học viên, KOTO giờ đây có quyền đặt ra các điều kiện tuyển dụng tương xứng với năng lực người lao động.
“Điều khiến tôi day dứt nhất sau gần 30 năm làm KOTO”
Sau gần ba thập kỷ giúp hơn 2.000 người trẻ yếu thế gây dựng cuộc đời mới, Jimmy vẫn day dứt vì chưa thể giúp được tất cả học viên có vấn đề sức khỏe tâm thần hoặc những rối loạn phát triển cần chăm sóc chuyên biệt.
KOTO có thể tạo môi trường an toàn, đào tạo nghề và giúp các em rèn luyện kỹ năng sống. Nhưng tổ chức không phải cơ sở điều trị.
Jimmy kể về một nữ học viên từng học tập, sinh hoạt khá tốt trong bảy tháng đầu tại KOTO. Em vui vẻ, hòa đồng, gần như không bộc lộ dấu hiệu bất thường nào đáng chú ý.
Rồi một ngày, cô gái bắt đầu có những biểu hiện khác lạ: hoảng sợ, tự nói chuyện một mình, có lúc tự làm đau bản thân. Khi tình trạng trở nên nghiêm trọng, gia đình mới cho biết em từng gặp những vấn đề tương tự trước đó. Cuối cùng, cô gái phải trở về với bố mẹ để được chăm sóc và tiếp cận hỗ trợ y tế phù hợp.
Một trường hợp khác là nam học viên đã hoàn thành hai năm đào tạo tại KOTO, sau đó tìm được công việc có thu nhập khá tại Hạ Long. Tưởng như cuộc sống đã ổn định thì sau một năm làm việc căng thẳng, em bất ngờ gặp lại những vấn đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng, phải nghỉ việc và trở về gia đình.
Người thân gửi cho Jimmy những đoạn video ghi lại tình trạng hiện tại của em. Nhắc đến người học trò từng tốt nghiệp, có công việc và thu nhập ổn định, nay phải trở về sống nhờ sự chăm sóc của gia đình, Jimmy chợt rưng rưng. Anh đưa tay khẽ xoa đôi mắt đỏ hoe, cố giữ những giọt nước mắt chưa kịp trào ra.
Jimmy tin rằng: môi trường sống có ảnh hưởng lớn đến khả năng thích nghi và ổn định của những học viên cần hỗ trợ đặc biệt. Trong thời gian ở KOTO, một số em tiến bộ rõ rệt, học nghề, sinh hoạt và làm việc cùng bạn bè. Nhưng khi rời môi trường quen thuộc, những khó khăn có thể xuất hiện trở lại.
Jimmy muốn cùng quỹ Thiện Tâm xây dựng một nhà hàng theo mô hình KOTO, dành riêng cơ hội làm việc cho những học viên cần môi trường hỗ trợ phù hợp hơn. Nếu điều kiện cho phép, anh dự định mời nam học viên từng làm việc tại Hạ Long trở lại.
“Tôi tin em ấy rất yêu KOTO. Tình cảm của các bạn cùng lớp và môi trường ở KOTO sẽ giúp được em ấy. Tôi không phải chuyên gia về sức khỏe tâm thần, nhưng vẫn muốn giúp em lần nữa.”
Jimmy cho rằng: Không ai sinh ra đã xấu xa, nguy hiểm hay luôn muốn làm hại người khác. Tất cả đều có nguyên nhân.
Sự đồng hành của KOTO vì thế không kết thúc khi học viên tốt nghiệp. Tổ chức duy trì mạng lưới cựu học viên. Trong năm nay, mạng lưới này đã hỗ trợ những suất học bổng học tập ở nước ngoài, trong đó có cơ hội tại Đại học Monash ở Australia, cùng các vị trí làm việc tại Dubai.
“Những người từng tốt nghiệp giờ có thể quay lại hỗ trợ lớp đàn em. Còn tôi thì vẫn tìm cách kết nối, giúp đỡ các em cựu học viên trong khả năng của mình.”
“Già quá rồi thì tôi sẽ về Úc, nhưng không muốn sống an nhàn”
Ở tuổi 54, Jimmy đã nghĩ đến cuộc sống sau khi rời KOTO. Anh dự định trở về Australia, tiếp tục giảng dạy hoặc làm công việc cộng đồng. “Tôi sẽ luôn phụng sự cho đến hơi thở cuối cùng”, Jimmy nói.
Nhưng tại sao những năm tháng còn khỏe mạnh, Jimmy dành phần lớn thời gian cống hiến cho Việt Nam, đến tuổi già lại chọn trở về Úc? Liệu đó có phải một sự bất công với nước Úc, nơi đã nuôi dưỡng anh trưởng thành?
Jimmy nghe xong, cười lớn.
Anh cho rằng nếu xã hội cứ vận hành theo kiểu ai giúp mình, mình nhất định phải trả ơn đúng người ấy, sự giúp đỡ sẽ trở thành một món nợ.
KOTO đã nâng đỡ hàng nghìn người trẻ, nhưng đâu phải tất cả đều quay lại giúp trường. Có em tốt nghiệp, đi làm, đủ sức nuôi cả gia đình tám, chín anh chị em. Có người vươn lên làm chủ nhà hàng, khách sạn, tạo việc làm cho hàng trăm lao động khác.
“Các em giúp được gia đình, cộng đồng là tôi mừng rồi. Tôi không mong hàng nghìn em ấy phải luôn nhớ đến hay quay lại giúp KOTO.”
Một tổ chức là vậy, một quốc gia cũng thế.
Theo Jimmy, không đất nước nào có thể yêu cầu công dân chỉ được cống hiến cho quê hương mình mà không được giúp đỡ người dân ở một quốc gia khác. Anh lớn lên tại Australia, được hưởng nền giáo dục và những cơ hội phát triển ở đó, trở thành người có ích cho xã hội. Với Jimmy, đó chính là thành quả của nước Úc, bất kể anh lựa chọn làm việc ở đâu.
Australia và Việt Nam - quê của mẹ anh - đều là nơi anh rất yêu mến. Không có lý do gì khiến tình yêu ấy phải được phân định bằng nơi mình làm việc hay nơi sẽ sống khi về già.
Jimmy muốn tiếp tục cống hiến hết sức trong những năm còn ở Việt Nam. Khi trở về Australia, anh cũng không có ý định ngừng làm việc.
Còn về tuổi già, khi đã lực bất tòng tâm, Jimmy xác định rõ: anh không muốn trở thành gánh nặng của bất kỳ ai, đặc biệt là những học viên từng được mình nâng đỡ.