Ý chí chiến lược ấy tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong các định hướng phát triển đất nước giai đoạn mới, đặt nền tảng cho một cuộc cải cách toàn diện về thể chế, tổ chức bộ máy và mô hình tăng trưởng. Trọng tâm của tiến trình này là xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; khơi thông mọi nguồn lực xã hội, phát huy vai trò động lực của khu vực kinh tế tư nhân; đồng thời thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh nhằm vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”, tạo dựng những động năng mới cho nền kinh tế.
“Bẫy thu nhập trung bình” là thách thức phát triển mà nhiều quốc gia phải đối mặt sau giai đoạn tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên và mở rộng đầu tư. Khi các lợi thế ban đầu dần suy giảm, chi phí sản xuất gia tăng nhưng năng suất, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo chưa đủ sức tạo ra động lực tăng trưởng mới, nền kinh tế có nguy cơ rơi vào trạng thái tăng trưởng chậm kéo dài và khó bứt phá lên nhóm nước thu nhập cao.
Khát vọng bứt phá…
Bản chất của bẫy thu nhập trung bình không chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn là bài toán chuyển đổi mô hình phát triển. Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy dấu hiệu của quá trình chuyển đổi này đang hiện hữu ở nhiều ngành sản xuất xuất khẩu. Trong các lĩnh vực thâm dụng lao động như dệt may, da giày hay lắp ráp điện tử, lợi thế cạnh tranh dựa trên chi phí nhân công thấp đang thu hẹp nhanh chóng khi mức sống và thu nhập của người lao động ngày càng được cải thiện.
Thực tế cho thấy, không ít đơn hàng gia công giá trị thấp đã dịch chuyển sang các thị trường có chi phí rẻ hơn. Điều đó cho thấy những động lực tăng trưởng truyền thống đang dần suy giảm hiệu quả, đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm các động lực phát triển mới.
“Khi các động lực tăng trưởng truyền thống dần cạn kiệt, nền kinh tế buộc phải chuyển sang giai đoạn phát triển dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế. Nếu quá trình chuyển đổi này diễn ra chậm chạp, quốc gia rất dễ rơi vào trạng thái trì trệ”, TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định.
Hiện nay, Việt Nam đang ở ngưỡng chuyển tiếp từ nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp lên thu nhập trung bình cao. Nghị quyết của Quốc hội đặt mục tiêu đến năm 2030 GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD, tạo nền tảng để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Tuy nhiên, con đường phía trước không chỉ phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng mà còn nằm ở chất lượng tăng trưởng. Báo cáo cập nhật kinh tế Việt Nam “Kiên định cải cách, ứng phó với biến động” của Ngân hàng Thế giới công bố tháng 5/2026 cho thấy khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và các doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số doanh nghiệp nhưng lại đóng góp phần lớn giá trị gia tăng và kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế.
Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn đang đối mặt với những hạn chế về năng suất, công nghệ và khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Những con số này cho thấy dư địa cải cách của Việt Nam vẫn còn rất lớn.
Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cấp vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, chuyển từ gia công đơn thuần sang làm chủ thiết kế, nghiên cứu phát triển, công nghệ và thương hiệu; đồng thời thúc đẩy tự động hóa sản xuất, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế.
"Muốn vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ hay mở rộng đầu tư mà phải từ năng suất lao động, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế” - TS. Võ Trí Thành.
… Cải cách thể chế chuyển biến ngoạn mục
Để giải phóng toàn diện các nguồn lực kinh tế, cải cách thể chế chính là bước đi tiên phong đầy quyết đoán.
Luật sư Diệp Năng Bình - Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật, Đoàn Luật sư TP HCM cho biết, Việt Nam đang chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy quản lý, cấp phép theo kiểu cũ sang tư duy kiến tạo phát triển, đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp. Một hệ thống thể chế hiện đại đều hướng tới việc cắt giảm tối đa các rào cản hành chính chồng chéo, loại bỏ chi phí tuân thủ và bảo vệ một cách thực chất quyền sở hữu tài sản cũng như trí tuệ.
Sự quyết liệt và tinh thần hành động này đã mang lại những số liệu thực tế vô cùng ấn tượng. Báo cáo của WB cho thấy, từ tháng 1/2025 đến tháng 4/2026, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam đã ban hành hoặc sửa đổi một khối lượng văn bản luật pháp lớn, gồm 86 văn bản luật và hơn 300 nghị định nhắm thẳng vào việc tối ưu hóa bộ máy quản lý và xử lý triệt để các rào cản pháp lý. Chính phủ đã ban hành liên tiếp 8 Nghị quyết chuyên đề để cắt giảm 184 thủ tục hành chính và dỡ bỏ 890 điều kiện kinh doanh, giúp các doanh nghiệp tiết kiệm được hơn 50% thời gian và chi phí thực hiện.
“Điển hình Nghị định số 141/2026/NĐ-CP nâng mức ngưỡng doanh thu được miễn thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân của các hộ kinh doanh cá thể lên mức 1 tỷ đồng/năm thay vì mức 500 triệu đồng như trước, trực tiếp tiếp sức và tạo động lực cho hàng triệu hộ kinh doanh chuyển dịch lên mô hình doanh nghiệp chính thức”, Luật sư Diệp Năng Bình nói.
Theo ông Phạm Văn Hòa, Đại biểu Phạm Văn Hòa, Đoàn Đại biểu QH tỉnh Đồng Tháp, ở quy mô lớn hơn, Nghị quyết số 29/2026/QH16 có hiệu lực từ 01/05/2026 của Quốc hội đã giúp cởi trói pháp lý cho hơn 3.338 dự án đất đai vốn bị đóng băng từ các tồn tại cũ, trả lại nguồn lực khổng lồ cho thị trường. Quy trình phê duyệt hồ sơ cho các nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần chiến lược tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đã được rút ngắn xuống chỉ còn tối đa 19 ngày làm việc, mở cánh cửa thu hút dòng vốn quốc tế chất lượng cao.
“Các doanh nghiệp ngành logistics đón nhận tin vui lớn khi được chủ động cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức quốc tế một cách thông thoáng mà không cần phải thực hiện các thủ tục cấp lại giấy phép định kỳ như trước đây”, Đại biểu Phạm Văn Hòa nhấn mạnh.
“Một hệ thống thể chế hiện đại đều hướng tới việc cắt giảm tối đa các rào cản hành chính chồng chéo, loại bỏ chi phí tuân thủ và bảo vệ một cách thực chất quyền sở hữu tài sản cũng như trí tuệ” - Luật sư Diệp Năng Bình.
Khơi thông nguồn lực mới… vững bước đường dài
Việt Nam nhanh chóng đón đầu thời cơ để kiến tạo những động lực tăng trưởng mới, hướng tới mức thu nhập cao vào năm 2045 trên cơ sở hiện thực hóa nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và thúc đẩy đổi mới sáng tạo thông qua 5 chỉ số quyết định: Năng suất lao động, Chất lượng nhân lực, Đổi mới sáng tạo, Chất lượng thể chế và Năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Quốc hội định hướng phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030, đồng thời ưu tiên bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho khoa học công nghệ và chuyển đổi số.
Theo Báo cáo của Ngân hàng thế giới, Việt Nam đang sở hữu lợi thế vàng trong chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu. Tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng liên quan trực tiếp đến trí tuệ nhân tạo như chip bán dẫn hay phần cứng trung tâm dữ liệu của Việt Nam đã tăng trưởng nhảy vọt từ mức 20% GDP năm 2023 lên đến khoảng 32% năm 2025, đưa nước ta lọt vào nhóm các quốc gia dẫn đầu thế giới.
Ngành công nghiệp chế biến chế tạo tiếp tục khẳng định vai trò xương sống khi chiếm bền vững 25% GDP năm 2025. Niềm tin của các tập đoàn quốc tế vào môi trường đầu tư Việt Nam ngày càng vững chắc khi dòng vốn FDI thực hiện giải ngân đạt mức kỷ lục 27,6 tỷ USD trong năm 2025 và tiếp tục bùng nổ tăng trưởng tới 36% về vốn đăng ký trong quý 1/2026, với các dòng vốn lớn dẫn đầu từ Hàn Quốc và Singapore.
Luật sư Diệp Năng Bình cho rằng, để bảo đảm dòng mạch tài chính luôn thông suốt, hệ thống vĩ mô đang được nắn chỉnh một cách khoa học. Ngân hàng Nhà nước đã chủ động triển khai lộ trình hướng tới các chuẩn mực quản trị rủi ro tiệm cận Basel III vào năm 2030, đồng thời định hướng dòng vốn tín dụng chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh tạo ra giá trị thực.
“Các kênh thị trường vốn dài hạn cũng đang được phát triển mạnh mẽ với mục tiêu mở rộng quy mô thị trường cổ phiếu đạt mức 120% GDP vào năm 2028 từ mức 78% của năm 2025 và khơi thông thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt ít nhất 25% GDP”, ông Bình cho biết.
Đây chính là nguồn lực tài chính trung và dài hạn dồi dào để đáp ứng cho kế hoạch đầu tư công trung hạn chặng đường 2026-2031 trị giá khổng lồ 8,22 triệu tỷ đồng vừa được Quốc hội thông qua. Nguồn vốn này đang tạo nên những kỳ tích hạ tầng mới trên khắp đất nước, từ siêu dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam, mục tiêu hoàn thành 5.000km đường bộ cao tốc vào năm 2030, nâng cấp các cảng hàng không chiến lược Phú Quốc, Chu Lai, cho đến việc vận hành các nhà máy điện khí LNG Nghi Sơn, Quỳnh Lập nhằm bảo đảm an ninh năng lượng.
“Sự cộng hưởng mạnh mẽ giữa nền tảng tài khóa vĩ mô ổn định, nợ công thấp ở mức an toàn 34% GDP và một hệ thống thể chế “Đổi mới 2.0” đầy khát vọng chính là bệ đỡ vững chắc nhất để Việt Nam tự tin hóa giải mọi thách thức, thẳng tiến trên con đường trở thành một quốc gia phát triển, thịnh vượng và hạnh phúc vào năm 2045”, Đại biểu quốc hội Phạm Văn Hòa khẳng định.
Hàn Quốc là quốc gia rất thành công thoát "bẫy" thu nhập trung bình” và có những bước tiến lớn về phát triển kinh tế.
Theo Korea.net, vào tháng 8/2024, trong Báo cáo Phát triển Thế giới năm 2024, Ngân hàng Thế giới đã ca ngợi Hàn Quốc là một "nền kinh tế nổi bật" trong việc vượt qua bẫy thu nhập trung bình khi năm 1960, thu nhập bình quân đầu người chỉ ở mức 1.200 USD. Đến cuối năm 2023, con số này đã tăng lên 33.000 USD.
Hàn Quốc là một ví dụ nổi bật trong cả 3 giai đoạn của chiến lược 3i gồm đầu tư, tiếp thị công nghệ và đổi mới sáng tạo để vượt qua "bẫy". Nước này đã mở rộng đầu tư vào cơ sở hạ tầng bằng cách mở cửa thị trường tài chính và thu hút vốn nước ngoài, đồng thời nâng cao năng suất thông qua đầu tư mạnh mẽ vào các lĩnh vực như du nhập công nghệ nước ngoài, nghiên cứu phát triển và giáo dục.
Nghiên cứu của World Bank và World Economic Forum chỉ ra rằng, Hong Kong (Trung Quốc) được xếp vào nhóm các nền kinh tế đã chuyển đổi thành công từ mức thu nhập trung bình sang thu nhập cao nhờ duy trì tăng trưởng năng suất trong thời gian dài. Thành công này không đến từ một yếu tố đơn lẻ mà là kết quả của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, hội nhập quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Một trong những động lực quan trọng nhất là chiến lược phát triển dựa trên thương mại tự do và mở cửa kinh tế. Trong giai đoạn từ thập niên 1950 đến 1970, Hong Kong đã xây dựng một môi trường kinh doanh có mức độ tự do cao thông qua việc duy trì thuế suất thấp, giảm thiểu các rào cản thương mại và bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp lý.
Những điều kiện này giúp vùng lãnh thổ này thu hút đáng kể dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, công nghệ tiên tiến và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo nghiên cứu của The Canon Institute for Global Studies (CIGS), Nhật Bản đã hoàn thành quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế có thu nhập trung bình sang nền kinh tế có thu nhập cao trong giai đoạn từ thập niên 1950 đến thập niên 1970. Quá trình này gắn liền với những thay đổi cơ cấu sâu rộng của nền kinh tế, bao gồm sự dịch chuyển nguồn lực từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, đồng thời tái cơ cấu các ngành bên trong khu vực công nghiệp nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất.
Trường hợp Nhật Bản cho thấy vai trò quan trọng của chính sách công nghiệp trong việc thúc đẩy quá trình chuyển đổi này. Chính phủ Nhật Bản, đặc biệt thông qua Bộ Công nghiệp và Thương mại Quốc tế (MITI), đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ hiện đại hóa các ngành công nghiệp trọng điểm và phát triển những lĩnh vực có tiềm năng dẫn dắt tăng trưởng trong tương lai.
Bên cạnh chính sách công nghiệp, đầu tư vào nguồn nhân lực và đổi mới công nghệ cũng là những yếu tố quyết định thành công của Nhật Bản. Sự kết hợp giữa chính sách công nghiệp hiệu quả, chiến lược phát triển nguồn nhân lực và năng lực đổi mới công nghệ đã tạo nền tảng cho giai đoạn tăng trưởng kinh tế vượt bậc của Nhật Bản từ năm 1955 đến năm 1973, thường được gọi là “kỳ tích kinh tế Nhật Bản”. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm khoảng 9 - 10%, giúp đất nước nhanh chóng vươn lên trở thành một trong những cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới.