Trò chuyện với PV Tri thức và Cuộc sống, GS.TS. NGƯT Lã Nhâm Thìn chia sẻ, qua 75 năm hình thành và phát triển, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã vun đắp nên một truyền thống học thuật sâu dày, một mạch nguồn tri thức và nhân văn không ngừng tiếp nối. Từ những bước chân đầu tiên, qua bao thế hệ thầy và trò, con đường ấy ngày một rộng dài hơn bởi những đóng góp cho sự nghiệp giáo dục, nghiên cứu và gìn giữ tiếng Việt, văn chương dân tộc. Từ nền móng được bồi đắp suốt ba phần tư thế kỷ, những giá trị ấy vẫn rạng rỡ, soi sáng hiện tại và mở đường cho những bước đi xa hơn trong tương lai.
Nhớ lại hành trình 75 năm, GS.TS.NGƯT Lã Nhâm Thìn, nguyên Trưởng Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cựu sinh viên Khoá 22 (1972 – 1976) cho hay, cùng với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa Ngữ văn được thành lập ngày 11/10/1951. Ra đời trong những năm tháng khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngay từ những ngày đầu, thầy và trò khoa Ngữ văn đã thể hiện truyền thống thương yêu, đoàn kết.
Các thế hệ sinh viên học tập trong một “giảng đường” chỉ là căn nhà ba gian bằng tranh, tre, nứa, lá. Để có ánh sáng học bài ban đêm, mỗi người tự chế một chiếc đèn dầu, có khi tận dụng cả lọ thuốc penicillin cũ.
Thiếu thốn vật chất nhưng giàu tình thầy trò, tình đồng nghiệp và khát vọng học tập, những sinh viên khóa đầu tiên đã được dìu dắt bởi những học giả, nhà giáo tên tuổi như: GS Đặng Thai Mai, GS Trần Văn Giàu, GS Cao Xuân Huy, GS Đào Duy Anh, GS Nguyễn Mạnh Tường, GS Nguyễn Lương Ngọc, GS Trương Tửu…
Từ mái trường giản dị ấy, nhiều người sau này trở thành những nhà giáo, nhà khoa học có đóng góp lớn cho nền giáo dục nước nhà, như: GS Đặng Thanh Lê, GS Phan Trọng Luận, GS Nguyễn Đình Chú, PGS Nguyễn Xuân Nam.
Truyền thống đoàn kết được tôi luyện qua những năm tháng chiến tranh và gian khó. Trong kháng chiến chống Mỹ, Khoa sơ tán lên Phúc Lương, Đại Từ, Thái Nguyên, rồi về Quần Ngọc, Trung Hòa, Yên Mỹ, Hưng Yên.
Giảng đường khi ấy vẫn là những căn nhà tranh, tường đất; thư viện có lúc chỉ là một ngôi chùa nhỏ của địa phương. Nhưng trong gian khó, tình nghĩa thầy trò và sự gắn bó với nhân dân càng thêm bền chặt.
Đến những năm bao cấp, khi cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, người Khoa Văn vẫn sẻ chia từng mảnh vải, chiếc lốp xe đạp, từng lạng đường, lạng thịt… Từ những điều bình dị ấy hình thành một tinh thần nhất quán: đặt lợi ích chung của Khoa lên trên những khác biệt cá nhân, để cùng giữ gìn “một khoảng trời trong xanh, yên bình” của Khoa Ngữ văn.
Cùng với đoàn kết, tôn sư trọng đạo trở thành một giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ. Khoa Ngữ văn luôn tự hào có những người thầy vừa uyên bác về học thuật, vừa mẫu mực về nhân cách – những bậc sư biểu như: GS Đặng Thai Mai, GS Trần Văn Giàu, GS Lê Trí Viễn, GS Bùi Văn Nguyên, GS Huỳnh Lý, GS Đặng Thanh Lê, GS Nguyễn Đình Chú, GS Nguyễn Đăng Mạnh, GS Phan Trọng Luận, GS Đỗ Hữu Châu, GS Nguyễn Ngọc San, GS Đặng Đức Siêu, GS Phương Lựu, GS Trần Đình Sử, GS Nguyễn Thanh Hùng…
Với nhiều thế hệ sinh viên, hình ảnh người thầy không chỉ hiện diện trên bục giảng mà còn là chuẩn mực để học tập, rèn luyện và trưởng thành. Từ đó, ý thức giữ gìn phẩm chất người thầy, trọng nghề dạy học và trọng đạo học trở thành một phần quan trọng trong hành trình của người Khoa Văn.
Gắn bó với nghề, với nghiệp văn cũng là một nét đẹp bền bỉ của người Khoa Văn. Qua nhiều thời kỳ, không ít cán bộ, giảng viên vẫn một lòng với nghề giáo, tận tâm với việc giảng dạy và đóng góp cho sự phát triển của môn Ngữ văn. Nhiều người được trao tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú. Sự gắn bó ấy không chỉ được đo bằng năm tháng đứng lớp, mà còn bằng trách nhiệm với nghề dạy học và những giá trị được trao truyền cho nhiều thế hệ học sinh, sinh viên.
GS.TS Lã Nhâm Thìn cho hay, trong những năm tháng chiến tranh, tình yêu nghề cũng hòa trong tình yêu đất nước. Từ giảng đường ra chiến trường và từ chiến trường trở về giảng đường, nhiều cán bộ, giảng viên, sinh viên Khoa Ngữ văn đã sống trọn với trách nhiệm của mình trong những năm tháng chiến tranh.
Trong kháng chiến chống Mỹ, thầy trò Khoa tham gia phục vụ chiến đấu tại nhiều địa phương; hai đại đội tự vệ lập tổ trực chiến và đài quan sát trên tầng thượng nhà A7, được gọi là “Con mắt phía Tây thành phố”.
Nhiều sinh viên vừa tốt nghiệp đã lên đường ra trận, trong đó có những người sau này trở thành các nhà thơ, nhà văn như Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Tô Nhuận Vỹ. Có những cán bộ, sinh viên đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Sự hy sinh ấy trở thành một phần ký ức thiêng liêng trong truyền thống của Khoa.
Trong thời bình, tinh thần gắn bó với cộng đồng tiếp tục được nối dài qua các hoạt động thiện nguyện, hiến máu nhân đạo, dạy học tình nguyện, hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, xây dựng thư viện và trao tặng sách, quần áo, đồ dùng học tập cho nhiều địa phương.
Từ những chuyến đi đến Hòa Bình, Thái Nguyên, Yên Bái, Lào Cai, Lạng Sơn… đến các chương trình “Tết yêu thương”, “Vì Trường Sa”, tinh thần sẻ chia đã trở thành một nét đẹp được tiếp nối tự nhiên giữa các thế hệ.
“Truyền thống, vì thế, không chỉ là ký ức để tự hào mà còn là nguồn nội lực để người Khoa Văn bước tiếp. Mỗi thế hệ đi qua để lại một dấu ấn, góp thêm một viên gạch vào nền móng chung”, GS Lã Nhâm Thìn chia sẻ.
GS Lã Nhâm Thìn cho hay, trên “con đường lớn” 75 năm xây dựng và phát triển, các thế hệ thầy trò Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã bền bỉ dựng xây nên những “toà lầu” của tri thức, nhân văn và những giá trị bền vững với thời gian.
Toà lầu khoa học trước hết được dựng nên từ sự kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu. Từ chiếc nôi đầu tiên của ngành Sư phạm Ngữ văn ở Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám, Khoa từng bước khẳng định vai trò “máy cái” của ngành giáo dục, đào tạo đội ngũ giáo viên, nhà nghiên cứu và những người làm văn hóa cho đất nước.
Qua ba phần tư thế kỷ, Khoa đã đào tạo khoảng 16.000 sinh viên chính quy, hơn 5.300 sinh viên tại chức và từ xa, gần 3.850 thạc sĩ, 482 tiến sĩ. Những bộ giáo trình đại học đầu tiên về Ngữ văn do các thế hệ giảng viên của Khoa biên soạn đã trở thành tài liệu giảng dạy, nghiên cứu tại nhiều trường đại học, cơ sở đào tạo trong cả nước.
Từ văn học dân gian, văn học Việt Nam, văn học nước ngoài đến lý luận văn học, ngôn ngữ học, Hán Nôm, cơ sở văn hóa Việt Nam…, hệ thống giáo trình và công trình nghiên cứu ngày càng được bổ sung, đổi mới, đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn giáo dục.
Phương châm “đại học sư phạm phải đi cùng, đi trước phổ thông” cũng tạo nên một dấu ấn riêng của Khoa. Nhiều thế hệ giảng viên không chỉ đứng trên giảng đường đại học mà còn trực tiếp tham gia xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa phổ thông, trong đó có nhiều người giữ vai trò Tổng chủ biên, Chủ biên.
Từ mái trường này, nhiều tài năng văn chương, nghệ thuật và những nhà quản lý, hoạt động xã hội, văn hóa cũng trưởng thành, góp phần làm giàu thêm đời sống tinh thần của đất nước.
Nếu khoa học tạo nên chiều cao của “toà lầu”, thì “toà lầu” nhân văn lại tạo nên chiều sâu và vẻ đẹp riêng của Khoa Ngữ văn. Đó là tình nghĩa thầy trò, nghĩa tình đồng nghiệp, đồng môn; là truyền thống tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn; là sự gắn bó giữa người Khoa Văn với quê hương, đất nước và nhân dân.
Những câu chuyện từ quá khứ vẫn giữ nguyên sức lay động. Sau hơn nửa thế kỷ, người dân nơi từng là lớp học đầu tiên vẫn nhận ra những sinh viên năm xưa trở lại. Ở những vùng sơ tán, khi cán bộ, giảng viên Khoa trở về thăm, người dân vẫn đón họ như những “người nhà”. Những ký ức ấy cho thấy điều còn lại sau năm tháng không chỉ là những công trình khoa học hay thành tích đào tạo, mà còn là tình người được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
Tinh thần ấy tiếp tục được thể hiện qua những quỹ học bổng, giải thưởng dành cho sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh. Từ Quỹ học bổng Nguyễn Tuân, các giải thưởng Huỳnh Lý, Lê Trí Viễn, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Ngọc San… đến các giải thưởng khuyến khích tài năng, phía sau mỗi phần thưởng không chỉ là sự hỗ trợ vật chất mà còn là trí tuệ, tài năng và tấm lòng của các thế hệ đi trước dành cho thế hệ tiếp nối.
GS Lã Nhâm Thìn chia sẻ, bước sang chặng đường mới, “con đường lớn” ấy cũng đứng trước không ít thử thách. Đội ngũ giảng dạy có sự thiếu hụt trong khi quy mô đào tạo vẫn lớn; yêu cầu đổi mới giáo dục, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, nâng cao ngoại ngữ và hội nhập quốc tế ngày càng rõ nét. Đặc thù chuyên sâu của ngành Ngữ văn vừa là thế mạnh, vừa đặt ra yêu cầu phải mở rộng khả năng thích ứng, kết nối liên ngành và đa dạng hóa đào tạo.
Vì thế, giữ vững chiều sâu chuyên ngành nhưng đồng thời mở rộng không gian phát triển đang trở thành hướng đi quan trọng. Những hướng nghiên cứu về loại thể, văn học – văn hóa, nghiên cứu liên ngành, văn học ứng dụng; cùng yêu cầu kết hợp tri thức chuyên ngành với công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và ngoại ngữ đang mở thêm những cánh cửa mới cho Khoa. Xa hơn, định hướng nâng tầm Khoa thành Trường, mở thêm ngành đào tạo và tăng cường liên ngành với các lĩnh vực khoa học xã hội được đặt ra như một bước phát triển mới.
75 năm, một chặng đường đủ dài để những viên gạch đầu tiên của một giảng đường tranh tre ngày nào trở thành những “tòa lầu” rạng rỡ của tri thức và nhân văn. Nhưng với Khoa Ngữ văn, giá trị của truyền thống không nằm ở việc nhìn lại để dừng bước, mà ở sức mạnh để bước tiếp.
“Trên con đường lớn phía trước, những “toà lầu” ấy sẽ tiếp tục được bồi đắp bằng tri thức, bằng tình yêu nghề, tình yêu văn chương và trách nhiệm với con người – để ánh sáng từ một truyền thống 75 năm tiếp tục soi đường cho những thế hệ mai sau”, GS Lã Nhâm Thìn khẳng định.