Trong lịch sử giáo dục đại học Việt Nam thế kỷ XX, các sinh viên Khóa 1 Đại học Tổng hợp Hà Nội (1956) giữ một vị trí đặc biệt. Họ vừa là người góp sức đặt những viên gạch đầu tiên cho nền khoa học cơ bản nước nhà sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, vừa là chứng nhân cho một thời kỳ trí thức dấn thân, khao khát cống hiến và tận hiến cho Đất nước.
Trò chuyện với Tri thức và Cuộc sống, GS.TS.NGƯT Phan Văn Hạp, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội nhiều lần nhắc đến hai yếu tố đã đi cùng cuộc đời mình, đó là thời cơ và sự nỗ lực. Từ một sinh viên khóa đầu được chọn ở lại Trường làm giảng viên, sang Liên Xô học tập, nghiên cứu, rồi trở về giữa những năm chiến tranh, hơn nửa thế kỷ gắn bó ở vai trò một nhà khoa học, người thầy, nhà quản lý, ông đã góp phần đặt nền móng cho Toán học tính toán Việt Nam, đồng thời cùng bao thế hệ nhà khoa học làm nên thương hiệu ngôi trường.
Với nhiều thế hệ sinh viên Toán và Vật lý của Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, cuốn sách Cơ sở phương pháp tính (do GS Phan Văn Hạp viết và chủ biên) được coi là giáo trình “kinh điển”, “gối đầu giường”, đặt nền móng cho việc giảng dạy chuyên ngành này từ thuở ban đầu.
“Có được công trình này có thể nói là công của GS Tạ Quang Bửu. Không chỉ đặt vấn đề về việc phải làm một giáo trình của Việt Nam, mà cụ đã yêu cầu nhà xuất bản trực tiếp gặp, đặt từng người viết, tức là cụ rất hiểu ai giỏi cái gì để giao đúng người”, GS Phan Văn Hạp kể lại.
GS Phan Văn Hạp cho hay, thời điểm đó, năm 1967, chiến tranh phá hoại miền Bắc diễn ra vô cùng ác liệt, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội phải sơ tán lên Đại Từ (Bắc Thái, nay là Thái Nguyên). Trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp Tạ Quang Bửu đã đưa ra một chủ trương mang tầm nhìn chiến lược: Việt Nam phải tự biên soạn bộ giáo trình đại học cho riêng mình. Bộ trưởng cử hai Phó Giám đốc Nhà xuất bản Đại học lên tận khu sơ tán, trực tiếp gặp gỡ từng giảng viên của ĐH Tổng hợp Hà Nội, trường ĐH đầu ngành về khoa học cơ bản để "đặt hàng".
GS Phan Văn Hạp được giao làm chủ biên bộ sách. Ông trực tiếp viết chương dài nhất ở Tập 1 và một chương rưỡi ở Tập 2. Tập 1 của bộ sách được xuất bản năm 1967 và Tập 2 xuất bản năm 1970 đã được sử dụng phục vụ giảng dạy sinh viên ngành Toán và Vật lý lý thuyết.
Không dừng lại ở lý thuyết thuần túy, các công trình khoa học của GS Phan Văn Hạp luôn gắn liền với thực tiễn đất nước. Trong những năm tháng chiến tranh, ông cùng các đồng nghiệp tại Khoa Toán, ĐH Tổng hợp Hà Nội đã thành lập tổ bộ môn mang tên "Vận - Đại - Lô - Phương" (Vận trù, Đại số, Logic, Phương pháp tính), tổ hợp các ngành toán ứng dụng nhằm giải quyết những bài toán cấp thiết của thực tiễn đất nước.
Một trong những đóng góp mang tính thực chiến nổi bật của ông là việc tham gia hiệu chỉnh số liệu, lập bảng bắn pháo binh phục vụ cho các chiến trường (như Dốc Miếu). Trước đó, quân đội ta chủ yếu dùng bảng bắn do Liên Xô cung cấp, vốn được tính toán theo điều kiện khí hậu vùng ôn đới. GS Phan Văn Hạp cùng các nhà toán học đã trực tiếp lên thao trường, khảo sát và tính toán hiệu chỉnh thuật toán theo đúng điều kiện thời tiết, khí tượng và độ ẩm tại Việt Nam, mang lại độ chính xác cao cho pháo binh.
Ông còn tham gia giải quyết nhiều bài toán thực tế khác như tính toán kết cấu cầu phao Yên Viên khi cầu vĩnh cửu bị đánh phá, hay bài toán thoát nước, nắn dòng chảy sông Bùng (Nghệ An) trong mùa lũ.
Đối với lý thuyết, ông đi sâu nghiên cứu phương trình tích phân kỳ dị, công cụ toán học đắc lực dùng để mô hình hóa các hiện tượng có đột biến như triều cường hay tính toán gia cố đê điều. Đặc biệt, ông cũng là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho chuyên ngành Toán học môi trường tại Việt Nam. Báo cáo khoa học của ông về mô hình phân tích ô nhiễm Rừng Đen (Tây Đức) tại hội thảo quốc tế đã gây chú ý lớn, mang về lời mời hợp tác nghiên cứu với một trường đại học lớn ở miền Nam Tây Đức.
GS.TS Phan Văn Hạp chia sẻ, năm 1956, ông trở thành sinh viên khóa đầu tiên của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Khi ấy, toàn trường chỉ khoảng 430 sinh viên ở cả hai khối Xã hội và Tự nhiên, riêng Khoa Toán có 65 người. Một lớp học tập hợp nhiều nhóm học sinh có trình độ và hoàn cảnh khác nhau, người đã có Tú tài, người từ các lớp Dự bị đại học kháng chiến, người học hệ 9 năm kháng chiến và cả học viên Bổ túc công nông.
Trong những ngày đầu ấy, ông được học với những nhà toán học thuộc thế hệ đặt nền móng cho giáo dục đại học mới, trong đó có các tên tuổi lớn, như thầy Lê Văn Thiêm, Hoàng Phương, Nguyễn Cảnh Toàn, Khúc Ngọc Khảm.
Chương trình ban đầu dự kiến kéo dài bốn năm, nhưng khóa đầu chỉ học 3 năm. Lý do là vì giáo trình chưa được chuẩn bị đầy đủ, nhiều môn phải vừa học vừa xây dựng tài liệu.
“Thầy Lê Văn Thiêm khi đó từng nói vui rằng, thầy trò đang học theo kiểu “cơm chấm cơm”, tức là thầy không hơn trò bao nhiêu. Thầy vào lớp, mở sách tiếng Nga ra, vừa học vừa giảng cho trò. Thầy và trò gần như cùng học với nhau”, ông kể.
Tháng 6/1959, sau khi tốt nghiệp hệ 3 năm, Phan Văn Hạp cùng một số sinh viên được chọn sang Liên Xô theo chương trình “chuyển tiếp sinh” để tiếp tục học tại Trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp (MGU).
Đây là khóa chuyển tiếp sinh duy nhất trong lịch sử giáo dục Việt Nam. Chương trình đại học ở MGU kéo dài 5 năm, trong khi sinh viên Việt Nam mới học 3 năm. Vì thế, nhóm chuyển tiếp sinh vừa phải học tiếp chương trình năm thứ tư, thứ năm, vừa bổ sung những môn còn thiếu, đồng thời cấp tốc học tiếng Nga.
Nhóm chuyển tiếp sinh sang MGU nhập học tháng 7 năm 1959 gồm 5 người, sau hai năm hoàn thiện chương trình đại học, 2 người phải trở về nước do không đạt yêu cầu. 3 sinh viên Khoa Toán đạt kết quả xuất sắc và được cấp “Bằng đỏ”. Phía Liên Xô đề nghị để 3 người ở lại làm nghiên cứu sinh, trong đó Phan Văn Hạp chọn chuyên ngành Phương pháp tính.
Sự lựa chọn này xuất phát từ một quyết định bất ngờ. Sau khi hoàn thành chương trình đại học tại MGU (Liên Xô), Phan Văn Hạp có dịp gặp GS. Lê Văn Thiêm khi GS Thiêm sang làm việc với Bộ môn của MGU (thời điểm đó, GS Thiêm là Đại diện toàn quyền của Việt Nam tại Viện Liên hợp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna, kiêm Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội).
Trong buổi làm việc, GS Thiêm hỏi GS Sergei Sobolev, Phân viện trưởng Phân viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô tại Novosibirsk, nguyên Tổ trưởng Bộ môn ở MGU: "Bây giờ có máy tính rồi, các anh dự báo khí tượng như thế nào?". Học viên Hạp dịch câu trả lời cho GS Thiêm: “Rất chính xác. Chính xác đến ngày hôm qua”.
“Thầy Thiêm hỏi tôi: “Hạp, em dịch sai à?”. Tôi nói: “Không, em dịch đúng”. Thì ra đó là cách nói hóm hỉnh của GS Sobolev. Cả phòng bật cười lớn và khuyên tôi nên học về toán tính toán, bởi thuật toán rất quan trọng, có thuật toán mới làm chủ được máy tính hiện đại lẫn các thuật toán cốt lõi. Nghe vậy, thầy Thiêm quyết luôn: “Hạp, em chuyển sang học ngành này đi”. Thế là tôi theo học ngành này, từ tầm nhìn chiến lược của các nhà khoa học Liên Xô và sự quyết đoán của thầy Thiêm”, GS Hạp kể.
Tháng 5 năm 1965, Phan Văn Hạp bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ loại xuất sắc trước hội đồng khoa học MGU. Khi phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam đến phỏng vấn về nguyện vọng, ông đã trả lời là muốn trở về nước ngay lập tức để cống hiến. Vì Việt Nam bắt đầu bước vào thời kỳ chiến tranh phá hoại.
“Trước khi về nước, tôi còn tham gia buổi biểu tình chống đế quốc Mỹ của lưu học sinh ngày 4/3/1965 ở Matxcơva”, GS Hạp nhớ lại.
Nhìn lại hành trình gần cả thế kỷ đã qua, GS Phan Văn Hạp cho hay, "dòng đời không phẳng lặng", nhưng ông thấy mình có nhiều may mắn, trong đó, may mắn lớn nhất là được học những người thầy giỏi, hết lòng hỗ trợ học trò, giúp trò những cơ hội phát triển tốt nhất. Và chính cái “không phẳng lặng” ấy lại tạo cho ông nỗ lực vượt qua nghịch cảnh.
GS Phan Văn Hạp cho hay, ông sinh năm 1939 tại Huế, nhưng có một giai đoạn sống và học tập tại Hà Tĩnh. Do cha đi công tác vắng dài ngày, mẹ làm nghề xay lúa gạo nhưng sức khỏe yếu nên từ bậc THPT, ông gần như phải tự túc hoàn toàn, tự lo cho cuộc sống, nuôi sống bản thân.
Bố ông lương không có, mỗi tháng chỉ được phát bao gạo. Có lúc cậu học trò Hạp phải đi bộ hơn 50 km từ thị xã Hà Tĩnh ra Vinh để lĩnh gạo của bố để lại ở cơ quan. Đầu đội mũ, vai mang túi, cậu còn bị nhầm là ăn xin. Tối mới đến nơi, mọi người nhìn thấy ông thì bảo: “Ở đây chẳng có cái gì mà xin đâu, cháu đi nơi khác đi”. Cậu phải nói: “Không, cháu là con ông Vấn. Cháu đến để xin lĩnh gạo”.
Cuộc sống gian khó nhưng tại Trường cấp 3 Phan Đình Phùng, ngôi trường phổ thông nổi tiếng của Hà Tĩnh thời bấy giờ, Phan Văn Hạp luôn đạt kết quả xuất sắc về môn Toán. Sau này, trở thành sinh viên của Trường ĐH Tổng hợp, được những người thầy giỏi dìu dắt, khích lệ, niềm đam mê ấy tiếp tục được vun đắp và tỏa sáng hơn.
GS Hạp nhớ, sau khi kết thúc năm nhất với nhiều vất vả, đến năm thứ hai, ông gần như đạt điểm xuất sắc toàn bộ các môn. Ngay lối cầu thang đi xuống cơ sở của Trường ở 19 Lê Thánh Tông, ông gặp GS Đàm Trung Đồn (người thầy dạy ông môn Vật lý, năm nhất), GS Đồn nói: “Ôi, anh Hạp ơi, kỳ này điểm thi của anh toàn trên 9 thôi”.
Có được những tình cảm đó của các thầy, theo GS Hạp, đó là sự may mắn của ông. Đến giờ, ông vẫn lưu giữ những bức ảnh chụp cùng thầy Hiệu trưởng Ngụy Như Kon Tum, thầy Lê Văn Thiêm, Bí thư Đảng ủy Lê Hoàng Linh và Trưởng phòng Tổ chức Trịnh Thuận..., những người đã có ảnh hưởng, khiến cuộc đời ông thay đổi.
Đi qua một chặng đường dài, khi được hỏi về sự lựa chọn nếu quay lại điểm xuất phát, GS Hạp cho biết, ông vẫn theo Toán học. “Tôi vẫn chọn ngành toán, vì tôi coi đây là một ngành rất cơ bản, tạo điều kiện cho mình đi xa hơn và tốt hơn về mặt tư duy. Nhưng nếu được lựa chọn lại, tôi sẽ đi vào ứng dụng sớm hơn”, ông chia sẻ.
Lựa chọn ấy, còn bắt đầu bởi “một tình yêu một cách tự nhiên” của ông dành cho Toán học. Cũng từ những tình yêu thuần khiết như thế cùng khát vọng cống hiến, của ông, và biết bao thế hệ trí thức dấn thân đã làm nên tầm vóc của Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội – “ngôi đền thiêng” của khoa học cơ bản nước nhà.