Tên tuổi Hoàng Đạo Thúy gắn với nhiều lĩnh vực, từ giáo dục, văn hóa đến cách mạng và quân đội. Ở tuổi 45, ông bước vào hàng ngũ quân nhân, nhận nhiệm vụ xây dựng hệ thống thông tin liên lạc quân sự trong những ngày đầu chính quyền cách mạng còn muôn vàn khó khăn. Bằng trí tuệ, tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy với đồng đội, ông đặt những viên gạch đầu tiên cho ngành có vai trò đặc biệt quan trọng trong quân đội. Trên những con đường Hà Nội hôm nay, có tên của cả ba thành viên trong gia đình Hoàng Đạo Thúy, tôn vinh một gia đình nhiều thế hệ dành tâm huyết, trí tuệ cho đất nước.
Đặt nền móng cho ngành Thông tin liên lạc quân sự
Tháng 6/1945, bị phát xít Nhật truy nã, Hoàng Đạo Thúy được các đồng chí Trần Quốc Hoàn và Hà Huy Giáp bí mật đưa lên chiến khu gặp Bác Hồ, tham gia Quốc dân Đại hội Tân Trào. Khi Chính phủ cách mạng lâm thời thành lập, ông chính thức gia nhập quân đội ở tuổi 45. Trong nhiều lĩnh vực công tác, Hoàng Đạo Thúy đều thể hiện năng lực tổ chức và tinh thần trách nhiệm. Đặc biệt, việc xây dựng hệ thống thông tin liên lạc (TTLL) quân sự đã trở thành đóng góp nổi bật trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông, gắn với cương vị Trưởng phòng rồi Cục trưởng đầu tiên của ngành.
Trong hồi ký, Hoàng Đạo Thúy kể lại việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp giao nhiệm vụ tổ chức mạng liên lạc riêng cho quân đội. Ông viết: “Tôi nhận nhiệm vụ ngay, không chần chừ chút nào, cũng quên chẳng hỏi đồ đạc máy móc được trao cho là những gì. Mà thế là phải, vì hồi ấy mà đặt câu hỏi như vậy thì ngớ ngẩn quá đi mất. Chỉ xin đoàn thể cho thêm vài đồng chí để cùng làm”.
Bắt tay vào công việc giữa muôn vàn thiếu thốn, ông vừa tổ chức lực lượng, tuyển chọn cán bộ, vừa tìm kiếm phương tiện kỹ thuật. Hoàng Đạo Thúy đề nghị Bộ Tổng Tham mưu điều động bộ điện đài 20W, máy thu phát MK2 về Phòng TTLL; đồng thời tận dụng, cải tiến những cơ sở liên lạc thu được để phục vụ nhiệm vụ quân sự.
Bên cạnh việc đào tạo nhân lực mới, ông còn tập hợp những cựu binh sĩ yêu nước, có tinh thần cách mạng, từng được đào tạo làm hiệu thính viên dưới thời Pháp. Những phương tiện và nhân lực ban đầu ấy góp phần bảo đảm thông tin liên lạc cho Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng chỉ huy sau Cách mạng Tháng Tám, cũng như trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
Hoàng Đạo Thúy trong Chiến dịch biên giới. Nguồn: ND.
Sau một thời gian được điều động sang công tác khác theo yêu cầu của Bác Hồ, cuối năm 1949, Hoàng Đạo Thúy trở lại quân đội, tiếp tục xây dựng ngành thông tin với tổ chức mang tên Cục TTLL. Trước yêu cầu ngày càng cao của chiến trường, ông cùng lãnh đạo Cục chú trọng đào tạo cán bộ, huấn luyện nhân lực kỹ thuật vô tuyến và hữu tuyến. Ông tự biên soạn tài liệu về nguyên tắc tổ chức TTLL trong chiến đấu, đưa vào giảng dạy, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm từ những học viên trở về sau thời gian công tác tại chiến trường để chỉnh lý nội dung cho sát thực tế. Chỉ sau nửa năm, hoạt động của Cục từng bước đi vào nền nếp.
Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hoàng Đạo Thúy tiếp tục xây dựng lực lượng, củng cố hệ thống TTLL quân sự, chuẩn bị cho những nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Quy mô lực lượng phát triển từ đại đội, tiểu đoàn lên trung đoàn, đáp ứng yêu cầu tổ chức thông tin hữu tuyến và vô tuyến.
Với ông, thông tin liên lạc là công việc đòi hỏi sự phối hợp và tin cậy giữa con người. Ông luôn coi đoàn kết là phẩm chất hàng đầu của người làm thông tin, bởi những người có thể chưa từng gặp nhau vẫn phải tuyệt đối tin tưởng để bảo đảm mệnh lệnh được truyền đạt thông suốt.
Trong quản lý, ông đề cao tri thức, sự thấu hiểu và tình cảm dành cho đồng đội; giao việc phù hợp với năng lực, kinh nghiệm của từng người, khơi dậy tinh thần trách nhiệm và sự tận tâm. Bằng năng lực tổ chức và cách dùng người ấy, Hoàng Đạo Thúy góp phần đặt nền móng cho hệ thống TTLL quân sự, trở thành người thầy, người anh cả của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ thông tin.
Gia đình có ba người được đặt tên đường ở Hà Nội, lời căn dặn giữ nếp "trung, hậu"
Hoàng Đạo Thúy (1900–1994) sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học. Điều đặc biệt, gia đình ông có ba người được đặt tên đường ở Hà Nội, gồm ông, cha ông là Hoàng Đạo Thành và con rể ông là Giáo sư Tạ Quang Bửu.
Hoàng Đạo Thành (1830–1908), thân phụ Hoàng Đạo Thúy, là nhà sử học, nhà giáo, có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử Việt Nam. Ông từng đỗ cử nhân, làm quan dưới triều Nguyễn, sau đó từ quan về quê dạy học, tham gia phong trào Duy Tân. Ông biên soạn nhiều công trình, trong đó có Việt sử tân ước, thể hiện sự quan tâm đến lịch sử và việc truyền bá tri thức. Tên ông được đặt cho một tuyến phố ở Hà Nội, ghi nhận những đóng góp của một nhà nho có tinh thần đổi mới đầu thế kỷ XX.
Còn giáo sư Tạ Quang Bửu (1910–1986) là nhà khoa học, nhà giáo và nhà quản lý giáo dục. Ông là chồng bà Hoàng Thị Oanh, con gái cả của Hoàng Đạo Thúy. GS Tạ Quang Bửu từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong kháng chiến chống Pháp, tham gia đoàn đàm phán của Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Genève năm 1954. Sau đó, trên cương vị Bộ trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp, ông có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng nền giáo dục đại học nước nhà. Tên ông được đặt cho một tuyến phố tại Hà Nội, đồng thời được dùng để đặt tên cho giải thưởng và các công trình giáo dục, khoa học.
Là cán bộ cao cấp, nhưng khi nghỉ hưu, Hoàng Đạo Thúy nhất quyết trả lại biệt thự cho Nhà nước, trở về làng Đại Yên sống trong ngôi nhà ba gian lợp lá gồi. Ông thích nhà lá bởi sự giản dị, thoáng mát. Gần 18 năm sống dưới mái nhà ấy, ông vừa chăm sóc người vợ già yếu, vừa miệt mài viết sách. Không muốn ngồi xa giường bệnh của vợ, ông kê một tấm bìa cứng lên đùi, ngồi bên cạnh giường để viết. Trong hoàn cảnh bình dị ấy, nhiều tác phẩm có giá trị về Hà Nội, con người và đất nước Việt Nam đã ra đời.
Nhà văn hóa Hoàng Đạo Thúy để lại nhiều tác phẩm có giá trị, trải rộng trên các lĩnh vực giáo dục, hướng đạo, quân sự và văn hóa, lịch sử. Trong đó, trong cuốn “Trai nước Nam làm gì?” (1943) ông đưa ra câu trả lời: “Việc quan trọng của một đời ta không phải là ở chỗ nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con khôn.
Nếu chúng ta tìm được một việc mà làm, một tôn chỉ mà theo, một mục đích mà đi tới, thì cái đời chúng ta có ý nghĩa, cái đời đáng sống. Như thế trên đời này, ngửa không thẹn với giời, cúi không thẹn với đất, mở mắt nhìn người không phải cúi đầu. Chúng ta để hết lòng, hết chí, ta làm việc ta, rồi ngày mai, hay một hôm nào đó, chết, ta có thể chết mà vẫn mỉm cười một cách thỏa mãn, chết không còn nuối tiếc gì nữa. Sống đã có nghĩa thì rồi chết cũng có nghĩa”.
Năm 1944, tác phẩm “Nghề thầy” của ông ra đời gói trọn tâm huyết của ông về việc giáo dục.
Trong bức di thư cuối cùng được tìm thấy gần một tháng sau ngày ông mất, vẫn là những lời căn dặn đầy sâu sắc ông để lại cho con cháu: “Cả cuộc đời của bố mẹ là một lời dặn các con và các cháu chữ “trung, hậu”. Trung với nước, với công việc. Hậu với bà con, với đồng bào. Các con, các cháu giữ nếp trung hậu sẽ có được hạnh phúc và thắng lợi…”.
Hoàng Đạo Thúy được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất và Huân chương Chiến thắng hạng Nhất. Năm 2005, tên ông được đặt cho một tuyến phố tại Hà Nội, nay thuộc phường Yên Hòa. Tên Hoàng Đạo Thúy còn được đặt cho đường phố ở TP HCM, Đà Nẵng, Pleiku và Điện Biên Phủ. Đặc biệt, con đường mang tên ông tại Điện Biên Phủ được đặt nhân dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954–2024).
Bài viết nằm trong tuyến bài: "Những danh nhân trên biển tên đường phố", nhằm tôn vinh những trí thức lớn làm rạng danh đất nước và giúp thế hệ hôm nay hiểu thêm về cuộc đời, sự cống hiến của những danh nhân có tên trên những con phố quen thuộc mỗi ngày.