Ngày 5/11/2026, tại Jakarta (Indonesia), Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO (MOWCAP) thông qua hồ sơ Văn bia Phố Hiến của tỉnh Hưng Yên. Bộ tư liệu gồm 41 văn bia chữ Hán và chữ Nôm, có niên đại từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX.
Một văn bia thuộc hệ thống 41 văn bia Phố Hiến vừa được ghi danh Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương - Ảnh: Cục Di sản văn hóa
Điểm đáng chú ý là những văn khắc này không chỉ ghi việc dựng chùa, đúc chuông hay tên người công đức mà còn phản ánh nơi cư trú, nghề nghiệp và đời sống giao thương của cư dân Phố Hiến với các cộng đồng ngoại quốc.
Phố Hiến hình thành và phát triển từ thế kỷ XVI, đạt thời kỳ cực thịnh trong thế kỷ XVII. Nơi đây từng được nhắc đến qua câu "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến".
Dấu tích phường, chợ hơn 300 năm trước
Một hiện vật tiêu biểu là bia "Kim Chung tự thạch bi ký" ở chùa Chuông, dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 7 (1711). Mặt sau bia có phần "Nhân Dục xã cổ tích truyện", ghi danh những người góp tiền sửa chùa, đắp tượng. Theo nghiên cứu của Ngô Đức Thọ đăng trên Tạp chí Hán Nôm năm 1993, văn khắc lưu lại tên nhiều phường buôn tại Phố Hiến hồi đầu thế kỷ XVIII.
Phố Hiến hình thành và phát triển từ thế kỷ XVI, đạt thời kỳ cực thịnh trong thế kỷ XVII - Ảnh tư liệu
Trong đó có Hàng Bè, Hàng Sũ, Nhiễm Tác, Hàng Thịt, Hàng Cá, Cựu Đê và Hậu Bi, trong đó Hàng Sũ là nơi bán quan tài, tiểu sành; còn Nhiễm Tác gắn với nghề nhuộm. Các nghề này còn phục vụ sinh hoạt của cư dân địa phương.
Tại chùa Hiến, bia dựng năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625) mô tả Phố Hiến như một chốn đô hội, đồng thời ghi công đức của khoảng 500 người. Bia Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709) lại cho biết thêm tên các khu buôn bán như Hàng Giường, Hàng Nồi Đất, Hàng Chén, Hàng Nón và Hà Khẩu. Đáng chú ý, một số địa danh trên bia chùa Chuông được gọi là "phường", còn bia chùa Hiến dùng chữ "thị".
Các tư liệu văn bia cho thấy Phố Hiến từng có khoảng 25 phường, chợ vào thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Nhiều tên gọi như Hàng Bè, Hàng Thịt, Hàng Cá, Hàng Nồi Đất và Hàng Chén phản ánh sự phát triển của hoạt động buôn bán, nghề thủ công tại thương cảng này.
Hoạt động giao thương tại Phố Hiến
Điểm đặc biệt của Phố Hiến là các phố nghề nằm trong một mạng lưới giao thương rộng hơn nhiều so với chợ địa phương. Theo tư liệu Thư viện tỉnh Hưng Yên, hàng xuất khẩu từng gồm tơ sống, lụa dệt, quế, sa nhân, đồ gốm sứ và đồ gỗ sơn. Ở chiều ngược lại, thương nhân đưa vào Đàng Ngoài bạc, đồng, thuốc bắc, hàng dệt và đồ sứ Trung Quốc.
Đến năm 1637, người Hà Lan lập thương điếm tại Phố Hiến, làm nơi giao dịch và tập kết hàng hóa của Công ty Đông Ấn Hà Lan. Các thương nhân chủ yếu dùng bạc để mua tơ sống, lụa, quế và sa nhân, sau đó vận chuyển sang Nhật Bản. Thương điếm Anh cũng hoạt động tại Phố Hiến trong nửa sau thế kỷ XVII.
Các tuyến đường thủy nối Phố Hiến với kinh thành Thăng Long, đồng thời kết nối thương cảng này với những vùng buôn bán khác. Thương cảng vì thế vừa có bến thuyền, vừa có chợ, phường nghề và cơ sở giao dịch của thương nhân nước ngoài.
Sự giao thoa ấy hiện rõ trong một chi tiết trên bia chùa Hiến năm 1709. Nhà nghiên cứu Ngô Đức Thọ ghi nhận riêng mặt cạnh bia có tên 66 người Hoa quê Phúc Kiến và Quảng Đông góp tiền công đức. Việc cùng tham gia sửa chữa một ngôi chùa của cộng đồng cho thấy mối liên hệ giữa hoạt động làm ăn và đời sống tín ngưỡng ở Phố Hiến.
Theo dấu thương cảng xưa
Điểm dừng đầu tiên là chùa Chuông, nơi còn lưu bia năm 1711 và nhiều hiện vật thời Hậu Lê. Du khách có thể kết hợp tìm hiểu kiến trúc chùa với các pho tượng La Hán trong hai dãy hành lang.
Chùa Chuông - Kim Chung tự (tức Chuông vàng) gắn liền với sự tích quả chuông vàng - Ảnh: hungyentourism
Từ đây, chùa Hiến giúp nối tiếp câu chuyện bằng hai tấm bia năm 1625 và 1709. Trong sân chùa còn có cây nhãn Tổ nổi tiếng, gắn với lịch sử nhãn lồng Hưng Yên.
Cây nhãn tổ chùa Hiến được công nhận kỷ lục Guinness ngôi chùa có cây nhãn tổ đầu tiên ở Việt Nam - Ảnh: hungyentourism
Đền Thiên Hậu là dấu tích đặc trưng của cộng đồng người Hoa tại Phố Hiến. Đền thờ bà Lâm Tức Mặc, vị thần hàng hải được người Phúc Kiến tôn kính, với các mảng chạm khắc kể chuyện Tam quốc, Tây Du ký và cảnh bốn mùa. Du khách cũng có thể ghé Đông Đô Quảng Hội, nơi từng gắn với hoạt động hội họp của thương nhân người Hoa.
Văn Miếu Xích Đằng - Ảnh: wikipedia
Nếu có thêm thời gian, du khách có thể ghé thăm Văn Miếu Xích Đằng, nơi lưu giữ 9 tấm bia đá ghi danh 161 vị đỗ đại khoa của vùng Sơn Nam xưa. Trong đó, 8 bia được dựng năm 1888, tấm còn lại lập năm 1943, ghi chép tên tuổi, quê quán và chức tước của những người đỗ đạt.
Di tích còn có cổng tam quan cổ, chuông đồng, khánh đá cùng không gian thờ Khổng Tử và thầy giáo Chu Văn An. Cả 9 văn bia đều thuộc hệ thống di sản tư liệu Phố Hiến vừa được UNESCO ghi danh, góp phần phản ánh truyền thống hiếu học của vùng đất từng nổi tiếng về giao thương.
Du khách có thể kết hợp tham quan các di tích trong một ngày. Để thuận tiện cho hành trình, nên tìm hiểu trước giờ mở cửa, giá vé (nếu có) và vị trí trưng bày văn bia tại từng địa điểm.