Đổi mới Hiến pháp, nền tảng chiến lược để Việt Nam bứt phá

Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi tổng thể Hiến pháp đặt ra vấn đề đổi mới tư duy lập hiến, hoàn thiện nền tảng thể chế, thiết kế những động lực phát triển mới.

Sự kiện Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 2013, chuẩn bị cơ sở lý luận và thực tiễn để nghiên cứu, đề xuất sửa đổi tổng thể Hiến pháp, tại lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc hội thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (9/11/1946 – 9/11/2026), là một định hướng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Đây không đơn thuần là yêu cầu nghiên cứu sửa đổi một văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, mà sâu xa hơn là đặt ra vấn đề đổi mới tư duy lập hiến, hoàn thiện nền tảng thể chế và thiết kế những động lực phát triển mới cho quốc gia trong nhiều thập niên tới.

99999.jpg
Phiên khai mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI

Yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy phát triển và hoàn thiện thể chế

Thế giới đang trải qua những biến động sâu sắc, phức tạp và khó dự báo. Trật tự kinh tế, chính trị quốc tế tiếp tục có những điều chỉnh lớn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; xung đột địa chính trị, căng thẳng thương mại, xu hướng bảo hộ và sự tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu đang tác động trực tiếp đến môi trường phát triển của các quốc gia.

Đặc biệt, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra những thay đổi có tính bước ngoặt. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ bán dẫn, tự động hóa, công nghệ sinh học và các công nghệ chiến lược đang làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh, quản trị và phân phối nguồn lực.

Tình hình an ninh chính trị thế giới cũng đặt ra yêu cầu phải gắn phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia và năng lực tự chủ chiến lược. An ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an ninh chuỗi cung ứng ngày càng có mối quan hệ chặt chẽ với an ninh quốc gia.

Đối với Việt Nam, đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội lịch sử. Việt Nam có vị trí địa kinh tế quan trọng, môi trường chính trị ổn định, thị trường nội địa có quy mô lớn, lực lượng lao động dồi dào và khả năng tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng quốc tế. Tuy nhiên, những lợi thế đó chỉ có thể chuyển hóa thành sức mạnh phát triển nếu chúng ta nâng cao được năng suất lao động, năng lực công nghệ, trình độ quản trị và chất lượng thể chế.

Nếu thể chế chậm đổi mới, thủ tục hành chính phức tạp, quy định pháp luật chồng chéo, quyền tài sản và quyền kinh doanh chưa được bảo đảm đầy đủ, chi phí tuân thủ cao thì cơ hội đầu tư, đổi mới sáng tạo và phát triển doanh nghiệp sẽ bị hạn chế.

Vì vậy, yêu cầu đổi mới thể chế hiện nay không phải là vấn đề mang tính chủ quan hay chỉ xuất phát từ mong muốn cải cách hành chính, mà là đòi hỏi khách quan của sự vận động kinh tế, chính trị và xã hội trong nước cũng như quốc tế.

Cùng với đó, chiến lược phát triển Việt Nam đến năm 2045 đòi hỏi phải chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng.

Đại hội XIV của Đảng đã xác định những định hướng chiến lược quan trọng cho giai đoạn 2026–2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Mục tiêu là xây dựng Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, với nền kinh tế hiện đại, năng lực cạnh tranh cao, đời sống nhân dân ngày càng được nâng lên, quốc phòng, an ninh được bảo đảm và vị thế quốc gia tiếp tục được củng cố.

Đáng chú ý, Nghị quyết Đại hội XIV đặt ra mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026–2030. Đây là mục tiêu rất cao, đòi hỏi phải có sự chuyển đổi mạnh mẽ về mô hình tăng trưởng, chất lượng nguồn lực và phương thức quản trị nền kinh tế.

Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam cần tập trung vào 5 động lực phát triển có tính nền tảng.

Thứ nhất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành động lực chủ yếu nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ hai, kinh tế tư nhân phải thực sự trở thành một động lực quan trọng hàng đầu của nền kinh tế.

Thứ ba, kinh tế nhà nước cần phát huy vai trò chủ đạo trong những lĩnh vực then chốt, bảo đảm các cân đối lớn, an ninh kinh tế và những nhiệm vụ chiến lược của quốc gia.

Thứ tư, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng và các ngành công nghiệp công nghệ cao phải trở thành hướng đi quan trọng để nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao năng lực quản trị và khả năng thích ứng của người lao động trước những thay đổi của công nghệ.

Những định hướng này được thể hiện trong các nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị, đặc biệt là Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng; Nghị quyết 71-NQ/TW về phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam.

Có thể thấy, các nghị quyết này không phải những chính sách riêng lẻ mà tạo thành một chỉnh thể định hướng phát triển quốc gia. Muốn triển khai đồng bộ, hiệu quả thì phải có nền tảng hiến định và hệ thống pháp luật tương thích, thống nhất, đủ khả năng điều chỉnh những quan hệ kinh tế, xã hội mới.

Hiến pháp là nền tảng hiến định cho mô hình phát triển quốc gia trong kỷ nguyên mới

Một nền kinh tế muốn phát triển bền vững phải có nền tảng pháp lý vững chắc về quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng, quyền tiếp cận công lý và trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ những quyền đó.

Điều 51 Hiến pháp năm 2013 xác định nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Đây là nguyên tắc hiến định quan trọng, thể hiện sự phát triển trong tư duy lý luận và thực tiễn của Việt Nam qua quá trình đổi mới.

Tuy nhiên, nền kinh tế hiện nay đang xuất hiện nhiều quan hệ mới mà cách tiếp cận pháp lý truyền thống chưa thể bao quát đầy đủ. Tài sản số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, kinh tế nền tảng, công nghệ sinh học, thị trường carbon và những mô hình kinh doanh xuyên biên giới đang đặt ra những vấn đề mới về quyền sở hữu, quyền khai thác, trách nhiệm pháp lý và cơ chế quản lý nhà nước.

Vì vậy, cần nghiên cứu, đánh giá toàn diện xem những nguyên tắc hiến định hiện hành đã tạo đủ cơ sở cho việc phát triển các mô hình kinh tế mới hay chưa; những nội dung nào cần tiếp tục kế thừa, những nội dung nào cần bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài.

Một bản Hiến pháp có tầm nhìn chiến lược phải vừa bảo đảm tính ổn định của chế độ, vừa có khả năng thích ứng với những thay đổi lớn của thời đại. Hiến pháp phải tạo ra khuôn khổ pháp lý đủ rộng để khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân và kiểm soát quyền lực nhà nước.

Đặc biệt, Hiến pháp phải tạo nền tảng cho một Nhà nước kiến tạo phát triển, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, thực sự phục vụ nhân dân, đồng thời có đủ năng lực quản lý, điều tiết nền kinh tế và bảo vệ lợi ích quốc gia.

Tôi cho rằng, có ít nhất 5 nhóm vấn đề cần được nghiên cứu sâu sắc.

Một là, tiếp tục hoàn thiện các quy định hiến định về chế độ kinh tế, quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và vị trí của các thành phần kinh tế. Cần bảo đảm mọi chủ thể kinh tế được hoạt động trong môi trường pháp lý minh bạch, bình đẳng, có khả năng dự đoán và được bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

Hai là, nghiên cứu hoàn thiện các quy định về tổ chức quyền lực nhà nước, phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, phân cấp và phân quyền cần được đánh giá trên cơ sở hiệu quả thực tiễn, bảo đảm rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ nguồn lực và rõ cơ chế giám sát.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân. Phát triển kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm mọi người dân có cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm, an sinh xã hội và các thành quả phát triển. Đặc biệt, cần bảo vệ tốt hơn quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân, quyền tài sản và các quyền cơ bản của con người trong môi trường số.

Bốn là, nghiên cứu hoàn thiện những quy định liên quan đến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và bảo vệ môi trường. Đây là những lĩnh vực có vai trò ngày càng quan trọng đối với năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của quốc gia.

Năm là, hoàn thiện nền tảng hiến định về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng nghiên cứu sửa đổi tổng thể Hiến pháp không đồng nghĩa với việc mặc nhiên phải thay đổi tất cả các quy định hiện hành. Một bản Hiến pháp có giá trị phải biết kế thừa những nguyên tắc đã được thực tiễn kiểm nghiệm, đồng thời bổ sung những nội dung thực sự cần thiết để đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Quá trình nghiên cứu phải được tiến hành khoa học, dân chủ, thận trọng, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy trí tuệ của nhân dân, các nhà khoa học, chuyên gia pháp lý, cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp xã hội; bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục hiến định.

Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật để khơi thông nguồn lực phát triển

Từ yêu cầu đổi mới Hiến pháp, vấn đề quan trọng tiếp theo là phải đổi mới đồng bộ hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.

Thực tiễn cho thấy, có những lĩnh vực kinh tế phát triển rất nhanh nhưng quy định pháp luật chưa theo kịp; có những chính sách được ban hành nhưng quá trình thực hiện còn chậm; một số quy định chồng chéo, thiếu thống nhất hoặc chưa rõ trách nhiệm của cơ quan thực hiện.

Điều đó làm gia tăng chi phí tuân thủ, tạo ra tâm lý e ngại trong hoạt động đầu tư, kinh doanh và làm hạn chế khả năng khai thác các nguồn lực xã hội.

Nghị quyết 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đã xác định yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, nâng cao chất lượng thể chế, bảo đảm pháp luật vừa là công cụ quản lý nhà nước, vừa là động lực thúc đẩy phát triển.

Cần tập trung vào 4 chuyển đổi quan trọng. Thứ nhất, chuyển từ tư duy quản lý nặng về kiểm soát sang tư duy kiến tạo phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp. Nhà nước cần tập trung vào những vấn đề mà thị trường không thể tự giải quyết hiệu quả, đồng thời tạo không gian để các chủ thể xã hội chủ động sáng tạo, đầu tư và kinh doanh.

Thứ hai, chuyển từ tư duy chỉ quản lý những mô hình kinh doanh truyền thống sang xây dựng hành lang pháp lý cho những mô hình kinh tế mới. Đối với trí tuệ nhân tạo, tài sản số, dữ liệu, công nghệ mới và các mô hình kinh doanh trên nền tảng số, cần có cơ chế thử nghiệm phù hợp, xác định rõ trách nhiệm, giới hạn rủi ro và phương thức giám sát.

Thứ ba, chuyển từ quản lý bằng nhiều tầng nấc thủ tục sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ và trách nhiệm giải trình. Thủ tục hành chính cần được đơn giản hóa, số hóa, giảm chi phí và thời gian cho người dân, doanh nghiệp. Việc phân cấp, phân quyền phải đi cùng với nguồn lực, năng lực thực hiện và cơ chế kiểm soát.

Thứ tư, chuyển từ chú trọng ban hành văn bản sang coi trọng chất lượng thực thi pháp luật. Cần tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá tác động và trách nhiệm của người đứng đầu, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm hoặc thực thi pháp luật tùy tiện.

Đặc biệt, phải bảo đảm tính ổn định, minh bạch và khả năng dự đoán của chính sách. Doanh nghiệp cần biết trước những điều kiện pháp lý để đầu tư dài hạn; người dân cần được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; cơ quan công quyền phải thực hiện đúng thẩm quyền và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Đây chính là nền tảng để xây dựng niềm tin pháp lý, một yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, đổi mới thể chế phải gắn với bảo đảm an ninh quốc gia, ổn định chính trị và phát triển bền vững. Một nền kinh tế phát triển nhanh nhưng thiếu an ninh, thiếu ổn định hoặc không bảo đảm công bằng xã hội thì không thể được coi là mô hình phát triển bền vững.

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, đổi mới thể chế phải bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển và ổn định, giữa hội nhập và tự chủ, giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của quốc gia.

Đặc biệt, phải nhận thức đầy đủ rằng an ninh kinh tế không chỉ là vấn đề bảo đảm các cân đối vĩ mô mà còn bao gồm khả năng tự chủ về công nghệ, năng lượng, dữ liệu, tài chính, lương thực và các chuỗi cung ứng thiết yếu.

Việc hoàn thiện pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo vệ sở hữu trí tuệ, kiểm soát rủi ro công nghệ và phòng chống tội phạm xuyên quốc gia cũng cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia.

9006.jpg
TS Đặng Văn Cường, Khoa Luật và Lý luận Chính trị, Trường Đại học Thuỷ Lợi

Đổi mới Hiến pháp và hoàn thiện thể chế không chỉ là yêu cầu của công tác lập hiến, lập pháp mà còn là yêu cầu của sự phát triển đất nước, là điều kiện để giải phóng mọi nguồn lực, khơi dậy khát vọng vươn lên, phát huy sức sáng tạo của nhân dân và doanh nghiệp, đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, tự chủ và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.

Bạn có thể quan tâm

Từ mùa thu độc lập đến quyền làm chủ của Nhân dân

Từ mùa Thu Độc lập năm 1945 đến hôm nay có một mạch nguồn không hề đứt đoạn: đó là hành trình khẳng định và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

81 năm đã đi qua kể từ ngày 2/9/1945, nhưng mùa Thu Độc lập vẫn luôn hiện diện trong đời sống tinh thần của dân tộc như một nguồn năng lượng đặc biệt. Bởi điều lớn lao mà Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đem lại không chỉ là nền độc lập cho đất nước, mà còn là sự đổi thay căn bản về vị thế của mỗi người Việt Nam: từ thân phận mất nước trở thành công dân của một quốc gia độc lập, từ người bị trị trở thành người làm chủ.

Hôm nay, trong kỷ nguyên phát triển mới, quyền làm chủ ấy đang được đặt trong một yêu cầu cao hơn: Nhân dân không chỉ là chủ thể của quyền lực, mà phải thực sự là chủ thể của phát triển, là trung tâm của mọi chính sách và là người được thụ hưởng những thành quả của đổi mới.

Ông Nguyễn Thanh Nghị: Đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược

Sáng 29/7, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa XIV.

Tại Hội nghị, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã quán triệt 2 chuyên đề "Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam" và "Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh".

Quán triệt chuyên đề “Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam”, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, sau 40 năm đổi mới, đất nước đã đạt nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử, thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2025.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - nòng cốt chính trị khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Nòng cốt chính trị trong tập hợp, đoàn kết và phát huy vai trò của nhân dân trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thành công tốt đẹp không chỉ xác lập mục tiêu, tầm nhìn chiến lược cho chặng đường phát triển tiếp theo, mà còn đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa lịch sử của đất nước khi bước vào kỷ nguyên mới, hướng tới các mốc son lịch sử trọng đại 100 năm thành lập Đảng, 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Qua đó, khẳng định vị trí, vai trò nòng cốt chính trị, thực sự là nơi phát huy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, hiệp thương, phối hợp, thống nhất hành động, chung sức, đồng lòng vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM NỖ LỰC XÂY DỰNG, CỦNG CỐ, PHÁT HUY SỨC MẠNH KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC