GS.TSKH Phan Xuân Dũng: Đưa tiếng nói trí thức vào các quyết sách lớn

GS.TSKH Phan Xuân Dũng khẳng định, tư vấn, phản biện giúp đưa tiếng nói trí thức vào các quyết sách lớn, tập hợp nguồn lực khoa học phục vụ đất nước.

Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống bên thềm Đại hội IX, GS.TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) cho rằng, sức mạnh của Liên hiệp Hội được tạo nên từ khả năng tập hợp trí thức, đưa tiếng nói khoa học tham gia xây dựng chính sách và huy động nguồn lực phục vụ phát triển đất nước.

gstskh-phan-xuan-dung-2946.jpg
GS.TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Ảnh: Mai Loan.

Tư vấn, phản biện: Đưa tiếng nói trí thức vào chính sách

- Tư vấn, phản biện và giám định xã hội là một trong những trọng trách quan trọng của Liên hiệp Hội Việt Nam, qua đó phát huy trí tuệ, kinh nghiệm của đội ngũ trí thức trong tham gia xây dựng chủ trương, chính sách. Trong nhiệm kỳ qua, vai trò này được Liên hiệp Hội Việt Nam thể hiện như thế nào, thưa ông?

Có thể nói, một trong những dấu ấn nổi bật nhất của nhiệm kỳ này là công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội.

Ngay trong thời gian đầu của nhiệm kỳ, hoạt động này đã phục vụ công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19. Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức hàng chục hội nghị lớn, tập hợp các nhà khoa học ở các viện, trường và các tổ chức lớn của Việt Nam để tìm ra những giải pháp khắc phục những vấn đề mà đại dịch đặt ra.

Rất nhiều công trình đã được triển khai trong thời gian đó, không chỉ là các công trình khoa học mà còn có hoạt động tư vấn, đưa các bác sĩ, y sĩ về những tâm điểm của đại dịch.

Sau đại dịch, Liên hiệp Hội Việt Nam bắt tay ngay vào việc khắc phục những hậu quả do đại dịch gây ra, cùng với cả hệ thống chính trị trong cả nước.

Đối với nhiệm vụ chính, Liên hiệp Hội Việt Nam tập trung tư vấn, phản biện đối với các dự án, đề án quan trọng của quốc gia và địa phương.

Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức các hội nghị lấy ý kiến chuyên gia, đặc biệt là những chuyên gia giàu kinh nghiệm, từng hoạt động trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, doanh nghiệp. Họ là những cán bộ tận tụy, có nhiều cống hiến và kinh nghiệm. Vì thế, những ý kiến của họ được Đảng, Nhà nước ghi nhận, đánh giá cao.

Các ý kiến góp ý của đội ngũ trí thức do Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức trước các kỳ họp Quốc hội, HĐND các cấp cũng được gửi tới Quốc hội, HĐND các cấp và được chính quyền, Quốc hội, HĐND tiếp thu để đưa vào nội dung hoạt động của mình. Hoạt động này được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đánh giá cao.

Nghiên cứu khoa học: Thu hút lực lượng trẻ, tạo thêm nguồn lực mới

- Một chuyển biến đáng chú ý trong nhiệm kỳ qua là Liên hiệp Hội Việt Nam không chỉ làm tốt vai trò tập hợp trí thức mà còn hình thành một lực lượng lớn các tổ chức khoa học và công nghệ, với sự tham gia ngày càng rõ của đội ngũ trẻ. Ông nhìn nhận thế nào về sự chuyển biến này?

Đây cũng là một trong những dấu ấn nổi bật trong nhiệm kỳ này. Ở những nhiệm kỳ trước, vẫn có quan niệm cho rằng, cán bộ làm việc trong Liên hiệp Hội Việt Nam và các tổ chức thuộc Liên hiệp Hội là những người về hưu.

Tuy nhiên, hiện giờ tình hình đã đổi khác. Có một xu thế mới, được thực hiện trên cơ sở chủ trương xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ mà Đảng và Nhà nước đề ra.

Liên hiệp Hội Việt Nam đã thành lập được 575 tổ chức khoa học và công nghệ. 575 tổ chức này không phải chỉ có người già mà có nhiều người trẻ, sinh viên mới ra trường, cán bộ khoa học đã làm việc trong các tổ chức khoa học và công nghệ hoặc những người muốn đổi mới môi trường làm việc.

Thực hiện chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, các tổ chức này hoạt động rất hiệu quả. Đến thời điểm này, 575 tổ chức khoa học và công nghệ chiếm 11% tổng số các tổ chức khoa học và công nghệ của cả nước. Nếu tính riêng các tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập thì chiếm tới 18%, gần 20%.

Như vậy, Liên hiệp Hội Việt Nam đã tập hợp được một đội ngũ rất đông đảo cán bộ khoa học. Đây là những người được Đảng, Nhà nước đào tạo, họ rất nhiệt tình và làm việc hiệu quả.

- Những con số về nguồn lực huy động và sản phẩm khoa học cho thấy sức đóng góp cụ thể của các tổ chức khoa học và công nghệ ra sao, thưa ông?

Mỗi năm Nhà nước hỗ trợ cho các tổ chức khoa học và công nghệ này, tùy từng giai đoạn, từng năm, khoảng 9-10 tỷ đồng.

Nhưng trong nhiệm kỳ vừa qua, các tổ chức này đã huy động được một con số rất lớn, khoảng 5.654 tỷ đồng. Nếu so với mức hỗ trợ khoảng 10 tỷ đồng mỗi năm của Nhà nước thì đây là một con số cho thấy hiệu quả rất lớn.

Các tổ chức này cũng đã nộp thuế 264 tỷ đồng. Nếu chia theo mức khoảng 10 tỷ đồng mỗi năm, trong 5 năm là khoảng 50 tỷ đồng, thì có thể thấy hiệu quả và đóng góp của các tổ chức khoa học và công nghệ rất rõ.

Không chỉ vậy, các tổ chức này đã huy động một lực lượng trí thức khoảng 6.300 người. Họ không chỉ làm ra các sản phẩm phục vụ xã hội mà còn góp phần nâng cao hàm lượng khoa học và công nghệ của Việt Nam. Điều đó thể hiện qua 64 bằng sáng chế, 88 giải pháp hữu ích, gần 500 bài báo quốc tế và 2.175 bài báo trong nước.

Những con số đó chưa tính đến các tổ chức khoa học và công nghệ thuộc các hội ngành toàn quốc. Đến thời điểm này, Liên hiệp Hội Việt Nam có khoảng 92 hội ngành toàn quốc, chưa kể các tổ chức ở địa phương. Vì vậy, phải thấy rằng đóng góp của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ dưới mái nhà chung Liên hiệp Hội Việt Nam là rất lớn.

Phổ biến kiến thức; tôn vinh trí thức để tạo niềm tin, điểm tựa cống hiến

- Bên cạnh việc tạo ra sản phẩm khoa học, đội ngũ trí thức còn có vai trò đưa tri thức đến gần hơn với cộng đồng. Công tác phổ biến kiến thức được Liên hiệp Hội Việt Nam triển khai như thế nào, thưa ông?

Một trong những kết quả ấn tượng trong nhiệm kỳ này chính là công tác phổ biến kiến thức. Phần lớn người dân Việt Nam vẫn chưa thể tiếp cận những nội dung khoa học cơ bản ở trình độ cao hoặc những công trình khoa học chuyên sâu. Do đó, cần có bộ phận truyền bá kiến thức.

Đội ngũ làm công tác phổ biến kiến thức nằm trong các tổ chức khoa học và công nghệ, các hội ngành toàn quốc và đã làm tốt việc phổ biến kiến thức tới người dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa.

Bà con được đội ngũ trí thức tới làm việc, phổ biến kiến thức thì rất biết ơn. Kinh phí thực hiện hoạt động này thường đến từ các hoạt động của doanh nghiệp, các tổ chức khoa học và công nghệ, nhưng một nguồn lực quan trọng khác là sự huy động từ các tổ chức quốc tế.

- Được biết, Liên hiệp Hội Việt Nam đặc biệt chú trọng tôn vinh trí thức. Đây có phải là một trong những những dấu ấn của nhiệm kỳ này, thưa ông?

Trong quá trình hoạt động, một vấn đề mà Liên hiệp Hội Việt Nam rất quan tâm là tôn vinh trí thức. Trong nhiệm kỳ này, công tác tôn vinh trí thức cũng là một điểm nhấn rất lớn.

Tôn vinh trí thức làm cho những người làm tốt thấy được mình được đánh giá. Khi được đánh giá, họ càng tự hào. Mà có tự hào thì đó là niềm tin, là điểm tựa để họ tiếp tục phấn đấu.

Xác định được vai trò, vị trí của công tác tôn vinh trí thức, Liên hiệp Hội Việt Nam đã thực hiện tốt việc này, không chỉ thông qua Quỹ VIFOTEC mà còn thông qua các tổ chức khoa học và công nghệ, các hội ngành toàn quốc.

Để làm tốt việc này, phải khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Khi có những hoạt động tôn vinh lớn, đều có sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước.

Khi phổ biến nghị quyết của Đại hội Đảng, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới. Đó cũng là một hình thức tôn vinh trí thức. Khi trao danh hiệu trí thức tiêu biểu hai lần, đồng chí Chủ tịch Quốc hội đều đến trao.

Đến quán triệt Nghị quyết 57, chính đồng chí Tô Lâm đã quán triệt cho đội ngũ trí thức. Trong 120 trí thức đến nhận nội dung quán triệt, có 60 trí thức của Liên hiệp Hội Việt Nam.

Đó cũng là công tác tôn vinh trí thức, đồng thời thể hiện sự tin tưởng đối với đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ dưới mái nhà chung Liên hiệp Hội Việt Nam.

- Nhìn lại toàn bộ nhiệm kỳ, từ tập hợp đội ngũ, hoàn thiện cơ chế đến tư vấn, phản biện, nghiên cứu khoa học và tôn vinh trí thức, ông đánh giá đâu là giá trị lớn nhất được tạo dựng?

Tất cả những việc đó gộp lại tạo nên sức mạnh của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam dưới mái nhà chung Liên hiệp Hội Việt Nam, tạo nên những kết quả rất đáng ghi nhận trong suốt 6 năm qua.

Từ việc tập hợp đội ngũ trí thức, xây dựng cơ chế, chính sách và quy chế hoạt động, đến tư vấn, phản biện và giám định xã hội, nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ, phổ biến kiến thức và tôn vinh trí thức, các hoạt động đều hướng tới phát huy nguồn lực trí thức phục vụ đất nước.

Đó là những kết quả nổi bật của nhiệm kỳ vừa qua và cũng là cơ sở để tiếp tục phát huy vai trò của Liên hiệp Hội Việt Nam trong thời gian tới.

- Trân trọng cảm ơn Chủ tịch Phan Xuân Dũng về những chia sẻ!

Bài viết nằm trong tuyến bài hướng tới Đại hội IX Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, nhiệm kỳ 2026-2031.

Đại hội VI Liên hiệp Hội Việt Nam: Phản biện trở thành trọng trách

Đại hội VI năm 2010 diễn ra sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 42, mở rộng yêu cầu tư vấn, phản biện, giám định xã hội, phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức.

Ngày 27 và 28/4/2010, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam diễn ra tại Hà Nội. Đây là kỳ Đại hội diễn ra trong một dấu mốc đặc biệt. Chỉ 11 ngày trước đó, ngày 16/4/2010, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 42-CT/TW về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

dai-hoi-vi.jpg
Đại hội Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ VI, nhiệm kỳ 2010-2015.

Đại hội V VUSTA: Trí thức góp sức giải các bài toán lớn của đất nước

Đại hội V năm 2004 đánh dấu bước phát triển mới của Liên hiệp Hội Việt Nam, khi tư vấn, phản biện, tập hợp trí thức và hội nhập được đặt trong yêu cầu mới.

Trong hai ngày 27 và 28/12/2004, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam diễn ra tại Nhà hát Lớn Hà Nội với tinh thần “Trí tuệ - Hợp tác - Phát triển”. Tham dự Đại hội có 434 đại biểu, gồm các ủy viên Hội đồng Trung ương khóa IV, đại biểu của 56 hội ngành toàn quốc, 36 Liên hiệp hội địa phương và một số tổ chức khoa học - công nghệ.

Đại hội có vinh dự được đón tiếp các đồng chí Phan Diễn, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Huỳnh Đảm, Đỗ Nguyên Phương, Cù Thị Hậu, đại diện nhiều bộ, ban, ngành, đoàn thể và cơ quan thông tin đại chúng.

Đại hội IV Liên hiệp Hội Việt Nam: Trí thức đồng hành trong công nghiệp hóa

Đại hội IV năm 1999 diễn ra khi đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ghi dấu bước phát triển về tổ chức, phản biện và hội nhập của đội ngũ trí thức.

Đại hội IV Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam diễn ra trong những năm cuối thế kỷ XX, khi đất nước chuyển mạnh sang thời kỳ đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và khoa học, công nghệ được xác định là một động lực quan trọng của phát triển.

dai-hoi-4-9824.jpg
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho Liên hiệp Hội Việt Nam. Ảnh: Tư liệu.