Đại biểu Bùi Trung Thành: Tăng cường bảo vệ người yếu thế, trẻ em

Theo đại biểu Bùi Trung Thành, một xã hội an toàn không chỉ là xã hội ít tội phạm hơn, còn là nơi mọi người dân, nhất là người dễ bị tổn thương, được bảo vệ.

Thảo luận tổ về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy và tội phạm giai đoạn 2026 – 2035 chiều 5/11, Đại biểu Bùi Trung Thành (Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng), Phó giám đốc Công an thành phố Hải Phòng nhấn mạnh cần chuyển mạnh từ tư duy xử lý sang chủ động phòng ngừa tội phạm từ sớm, từ xa, từ cơ sở.

6555.jpg
Đại biểu Bùi Trung Thành, Phó giám đốc Công an TP Hải Phòng phát biểu thảo luận.

Tập trung nguồn lực giải quyết nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm

Theo đại biểu Bùi Trung Thành, phòng, chống tội phạm có 2 yêu cầu luôn gắn bó chặt chẽ: kịp thời phát hiện, xử lý hành vi đã xảy ra và chủ động loại bỏ nguyên nhân, điều kiện đề tội phạm không phát sinh.

Thực tiễn cho thấy, dù hoạt động điều tra, truy tố, xét xử có hiệu quả đến đâu thì những tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản khi tội phạm đã xảy ra nhiều khi vẫn khó khắc phục đầy đủ.

Vì vậy, yêu cầu phát hiện và ngăn chặn từ sớm, từ xa, từ cơ sở không chỉ là sự điều chỉnh phương pháp công tác, mà còn là thay đổi cách xác định kết quả cuối cùng của chính sách phòng, chống tội phạm.

Theo Đại biểu Bùi Trung Thành, trong nhiều năm qua, công tác đấu tranh, trấn áp tội phạm đã đạt kết quả quan trọng, góp phần giữ vững an ninh, trật tự. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy tính chất của tội phạm ngày càng tinh vi, xuất hiện những loại tội phạm có khả năng gây thiệt hại lớn trong thời gian rất ngắn. Khi một vụ lừa đảo trực tuyến đã xảy ra, tài sản có thể bị chuyển dịch qua nhiều tài khoản; khi bạo lực, xâm hại trẻ em hoặc tội phạm ma túy để lại hậu quả, rất nhiều mất mát không thể khắc phục hoàn toàn. Vì vậy, cùng với việc điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, cần đầu tư có hệ thống cho nhận diện nguyên nhân, điều kiện, địa bàn và nhóm người có nguy cơ để can thiệp sớm, hạn chế khả năng phát sinh tội phạm.

Phòng ngừa từ sớm là sớm nhận diện hành vi, điều kiện và nguy cơ có thể dẫn đến vi phạm; từ xa là phát hiện những phương thức, thủ đoạn mới, đường dây xuyên quốc gia hoặc nguy cơ lan truyền trên không gian mạng; từ cơ sở là nơi trực tiếp tiếp xúc với Nhân dân, nơi các mâu thuẫn, yếu tố nguy cơ và nhu cầu hỗ trợ biểu hiện rõ nhất. Cách tiếp cận này đòi hỏi kết hợp giữa truyền thông, giáo dục, trợ giúp pháp lý, hòa giải, quản lý địa bàn, dữ liệu cảnh báo và các biện pháp nghiệp vụ đúng pháp luật, không đồng nhất phòng ngừa với mở rộng biện pháp cưỡng chế.

Tán thành Chương trình phấn đấu hằng năm giảm 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội trong giai đoạn đến năm 2030; đồng thời nâng tỷ lệ người dân tiếp cận thông tin tuyên truyền và phát triển các mô hình phòng ngừa trong nhà trường, tại địa bàn cấp xã, đại biểu cho rằng, việc lượng hóa như vậy tạo áp lực tích cực để các cơ quan không chỉ báo cáo số hoạt động đã triển khai mà phải chịu trách nhiệm về chuyển biến thực tế. Tuy nhiên, đề bảo đảm tính khả thi, cần xác định rõ phương pháp thống kê, kỳ gốc so sánh, phạm vi tội phạm, trách nhiệm cung cấp số liệu và biện pháp kiểm chứng độc lập, tránh cách tính không thống nhất giữa địa phương hoặc đánh giá thành tích chỉ trên cơ sở số vụ được ghi nhận.

Phòng ngừa bền vững cũng phải gắn với công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Những sơ hở trong quản lý tài chính, dữ liệu, thương mại điện tử, đất đai, tài nguyên, môi trường hoặc ngành nghề kinh doanh có điều kiện có thể trở thành cơ hội cho tội phạm lợi dụng. Vì vậy, các hoạt động đầu tư của Chương trình cần đồng hành với việc hoàn thiện chính sách, quy trình giám sát rủi ro, chia sẻ dữ liệu hợp pháp và trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan quản lý chuyên ngành với lực lượng phòng, chống tội phạm. Đây là phương thức phòng ngừa bằng quản trị tốt, có hiệu quả lâu dài và tiết kiệm chi phí xã hội hơn so với chỉ xử lý sau vi phạm.

Từ những phân tích trên, đại biểu Bùi Trung Thành đề nghị Chính phủ tập trung nguồn lực vào các giải pháp giải quyết nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm; phát huy trách nhiệm của cấp xã, phát triển hệ thống cảnh báo và dịch vụ hỗ trợ, đồng thời giám sát bằng những chỉ tiêu rõ ràng, có thể kiểm chứng. Chỉ khi người dân cảm nhận được sự an toàn tăng lên, chủ trương đầu tư mới đạt được mục tiêu cốt lõi.

Xây dựng xã, phường, đặc khu không có ma túy

Theo đại biểu Bùi Trung Thành, đây là yếu tố quan trọng để bảo đảm trật tự an toàn xã hội- nền tảng để thực hiện thắng lợi mục tiêu của chương trình.

Đại biểu nêu rõ, nhiều nguy cơ về ma túy và tội phạm được hình thành, bộc lộ trước tiên trong đời sống hằng ngày ở khu dân cư, nhà trường, khu công nghiệp, nơi công cộng và các địa bàn giáp ranh.

Một mâu thuẫn không được hòa giải kịp thời, một nhóm thanh thiêu niên có nguy cơ vi phạm thiếu người quản lý, một tụ điểm mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy không được phát hiện sớm đều có thể trở thành vấn đề phức tạp về trật tự, an toàn xã hội.

Theo đại biểu, nhiều hành vi có nguy cơ dẫn đến tội phạm có thể được nhận diện sớm từ những mâu thuẫn trong gia đình, học đường, các điểm tụ tập sử dụng ma túy hoặc tình trạng thanh thiều niên có nguy cơ. Nếu cấp xã có cơ chế nắm tình hình, tiếp nhận thông tin, hòa giải, quản lý và hỗ trợ phù hợp, nhiều vụ việc có thể được ngăn chặn trước khi trở thành vấn đề phức tạp.

Nhất trí với mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu có ít nhất 50% số xã, phường, đặc khu trên toàn quốc không có ma túy, tuy nhiên đại biểu cho rằng việc đánh giá phải dựa trên tiêu chí rõ ràng, thống nhất, phản ánh đúng tình hình và có cơ chế rà soát, công nhận, kiểm tra, duy trì kết quả.

Không nên để sức ép thành tích dẫn đến tâm lý né tránh phát hiện người sử dụng trái phép chất ma túy hoặc không báo cáo đầy đủ vụ việc. Một địa bàn làm tốt công tác phát hiện, quản lý, điều trị và hỗ trợ người nghiện cần được nhìn nhận bằng chất lượng quản trị nguy cơ, không chỉ bằng một con số mang tính hình thức.

Theo đại biểu, xây dựng địa bàn an toàn phải được đặt trong tổng thể các giải pháp phòng ngừa xã hội. Đối với ma túy, cần kết hợp phát hiện, triệt xóa các điểm phức tạp với cai nghiện, điều trị, quản lý sau cai, hỗ trợ tái hòa nhập và phòng ngừa tái nghiện.

Đối với các loại tội phạm khác, cần chú trọng hòa giải tại cơ sở, giải quyết mâu thuẫn, giáo dục pháp luật, cảnh báo lừa đảo, hỗ trợ người bị hại và tiếp nhận, xử lý kịp thời tố giác, tin báo vê tội phạm. Mỗi hoạt động chỉ có giá trị khi cùng góp phần làm giảm điều kiện phát sinh tội phạm trên địa bàn.

Người dân cần có kênh phản ánh tin báo thuận tiện, được bảo vệ khi tố giác, được tiếp cận thông tin phòng ngừa và được hỗ trợ khi là nạn nhân hoặc thuộc nhóm có nguy cơ.

Tăng cường bảo vệ người bị hại, người yếu thế và trẻ em

Đại biểu Bùi Trung Thành chia sẻ, sau mỗi vụ án, ngoài việc truy tìm, xử lý người thực hiện hành vi phạm tội, còn một vấn đề rất cần được quan tâm là tình trạng của người bị hại và những người chịu ảnh hưởng. Họ có thể mất tài sản, bị tổn hại sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc phải đối diện với khó khăn kéo dài về tâm lý, việc làm và sinh kế.

Đối với trẻ em, người yếu thế và những người có hoàn cảnh khó khăn, khả năng tự bảo vệ và tiếp cận các dịch vụ pháp lý nhiều khi còn hạn chế. Một chính sách phòng, chống tội phạm hiệu quả vì vậy phải kết hợp yêu cầu ngăn chặn, xử lý với trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Đây là góc tiếp cận cần được chú trọng khi xem xét các nhiệm vụ trợ giúp pháp lý, bảo vệ người bị hại và hỗ trợ các nhóm dễ bị tổn thương trong Chương trình.

Theo Tờ trình của Chính phủ, Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030 bảo đảm 98% người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được trợ giúp pháp lý có yêu cầu được tiếp cận thông tin và trợ giúp pháp lý trong vụ án hình sự. Đồng thời phấn đấu trợ giúp pháp lý cho 100% người vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy, người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện và người sau cai nghiện thuộc diện được trợ giúp pháp lý khi có yêu cầu. Đến năm 2035, mục tiêu tiếp cận đối với người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được trợ giúp pháp lý có yêu cầu tiếp tục được nâng lên. Những chỉ tiêu này thể hiện sự quan tâm đến khả năng tiếp cận công lý, đặc biệt ở các nhóm có nguy cơ chịu thiệt thòi.

Quyền được trợ giúp pháp lý chỉ trở thành hiện thực khi người thụ hưởng có thể tiêp cận dịch vụ đúng thời điểm và đúng nhu cầu. Trong một vụ án hình sự, thông tin, tư vấn và sự hỗ trợ pháp lý kịp thời có ý nghĩa lớn đối với nhiều rào cản. Do đó, đầu tư cần chú trọng năng lực của đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, các hình thức cung cấp dịch vụ phù hợp, kết nối giữa cơ quan tiến hành tố tụng và tổ chức trợ giúp pháp lý, đồng thời bảo đảm chất lượng thay vì chỉ chú trọng tỷ lệ tiếp cận được ghi nhận.

Bảo vệ trẻ em và nhóm dễ bị tổn thương phải bắt đầu từ phòng ngừa. Những nguy cơ bị bạo lực, xâm hại, mua bán người, lừa đảo hoặc bị lôi kéo tham gia hành vi vi phạm có thể xuất hiện trên môi trường mạng, tại trường học, trong gia đình và cộng đồng.

Bởi vậy, đại biểu tán thành việc chú trọng truyền thông pháp luật, mô hình trường học an toàn, phát triển kỹ năng phòng vệ và sự phối hợp của gia đình, nhà trường, chính quyền cơ sở. Tuy nhiên, giải pháp phòng ngừa phải phù hợp đặc điểm từng nhóm, không tạo kỳ thị hoặc mặc nhiên coi người thuộc diện quản lý, người có hoàn cảnh khó khăn là đối tượng nguy hiểm. Sự hỗ trợ, tôn trọng và khả năng tiếp cận dịch vụ chính là điều kiện để phòng ngừa rủi ro bền vững.

Một xã hội an toàn không chỉ là xã hội có ít tội phạm hơn, mà còn là nơi mọi người dân, nhất là người dễ bị tổn thương, được bảo vệ và có cơ hội tiếp cận công lý.

Từ bản hiến pháp đầu tiên đến nền móng chính sách an sinh vì con người

Từ những điều khoản giản dị bản Hiến pháp đầu tiên, tư tưởng nhân văn trở thành mạch nguồn xuyên suốt quá trình xây dựng pháp luật, chính sách an sinh xã hội.

Kỷ niệm 80 năm ngày Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1946 (9/11/1946 – 9/11/2026) là dịp nhìn lại một lựa chọn có ý nghĩa nền tảng của Nhà nước Việt Nam mới: đặt Nhân dân vào vị trí chủ thể của quyền lực, lấy tự do, bình đẳng và hạnh phúc của con người làm đích đến. Từ những điều khoản giản dị của bản Hiến pháp đầu tiên, tư tưởng nhân văn ấy đã trở thành mạch nguồn xuyên suốt trong quá trình xây dựng pháp luật và chính sách an sinh xã hội của đất nước.

99999.jpg
Phiên khai mạc Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI

Sappho và những vần thơ tình vượt qua hơn 2.600 năm

Sappho từng được người Hy Lạp cổ đại đánh giá cao đến mức triết gia Plato được cho đã gọi bà là “Nàng thơ thứ mười”.

Sappho là nhà thơ trữ tình nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại, sống vào khoảng cuối thế kỷ VII đến đầu thế kỷ VI trước Công nguyên. Bà sinh ra trên đảo Lesbos, thuộc vùng biển Aegean, nhưng những thông tin chính xác về cuộc đời bà vẫn còn nhiều tranh luận. Có giả thuyết cho rằng bà xuất thân từ một gia đình quý tộc và từng sống tại Mytilene, thành phố lớn trên đảo. Trong thời đại mà văn chương và hoạt động sáng tác chủ yếu do nam giới chi phối, Sappho trở thành một trong những tiếng nói nữ giới hiếm hoi được lưu danh trong lịch sử văn học phương Tây.

Khác với những trường ca anh hùng thường kể về chiến tranh, thần linh và những chuyến phiêu lưu, thơ của Sappho tập trung vào thế giới nội tâm con người, đặc biệt là tình yêu, nỗi nhớ, ghen tuông, khát vọng và vẻ đẹp. Những bài thơ của bà thường được sáng tác để hát cùng đàn lia, vì vậy mang nhịp điệu giàu cảm xúc và gần gũi với âm nhạc. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất là bài thơ thường được gọi là Ode to Aphrodite, trong đó nữ thi sĩ cầu khẩn nữ thần tình yêu Aphrodite giúp mình vượt qua nỗi đau tình cảm.

[VIDEO] Đề xuất cấm sang tay hợp đồng mua bán nhà trên giấy

Tại phiên thảo luận Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi sáng 30/10, đại biểu Quốc hội đề xuất cấm sang tay hợp đồng nhằm hạn chế đầu cơ, đẩy giá nhà.