Báu vật đồng nặng 95,5 kg hé lộ kỹ thuật đúc cổ đại

Chiếc cấm đồng hoa văn mây có niên đại khoảng 2.500 năm gây chú ý bởi kích thước lớn, họa tiết tinh xảo và kỹ thuật đúc thất lạp phức tạp.

Phát hiện quần thể mộ cổ dưới lòng hồ

Trong lịch sử nhân loại, nhiều phát minh quan trọng đã xuất hiện từ những nền văn minh cổ đại. Tuy nhiên, không ít thành tựu từng bị đánh giá thấp do thiếu bằng chứng khảo cổ cụ thể. Một phát hiện tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, đã góp phần làm sáng tỏ trình độ thủ công và kỹ thuật luyện kim của người xưa, đồng thời cung cấp tư liệu quý cho việc nghiên cứu lịch sử đúc đồng.

Khi mực nước một hồ chứa ở phía Tây Nam tỉnh Hà Nam hạ thấp, một ngôi mộ cổ bị vùi sâu dưới nước bất ngờ lộ diện. Cơ quan văn hóa địa phương nhanh chóng tiến hành khai quật và bảo vệ di tích. Qua khảo sát ban đầu, các chuyên gia nhận thấy đây không phải một ngôi mộ đơn lẻ mà là quần thể mộ có quy mô lớn.

Công việc khai quật phải tạm dừng khi mùa mưa đến. Đến mùa xuân năm sau, đội khảo cổ tiếp tục nghiên cứu và phát hiện 24 ngôi mộ thuộc thời Xuân Thu cách nay khoảng 2.500 năm, cùng một số mộ thời Hán.

Tổng cộng, hơn 1.000 hiện vật quý được tìm thấy, phản ánh đời sống văn hóa, tín ngưỡng và trình độ chế tác của cư dân cổ đại. Trong số đó, chiếc cấm đồng hoa văn mây gây chú ý đặc biệt bởi hình dáng độc đáo và kỹ thuật chế tác tinh vi.

anh-chup-man-hinh-2026-10-9856.png
Hơn 1.000 di vật phát hiện trong quần thể mộ cổ ở Hà Nam, Trung Quốc, đặc biệt là chiếc cấm đồng hoa văn mây hé lộ trình độ đúc đồng vượt trội thời Xuân Thu. Ảnh: Tư liệu của Bảo tàng Hà Nam (Trung Quốc).

Cấm đồng hoa văn mây và kỹ thuật đúc thất lạp

Chiếc cấm đồng có niên đại thời Xuân Thu, dài khoảng 103 cm, rộng 47 cm, cao 14 cm và nặng 95,5 kg. Hiện vật có hình khối chữ nhật, trên thân trang trí 12 hình thú đầu rồng với đường nét phức tạp, được bố trí hài hòa.

Đây không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà còn là bằng chứng quan trọng giúp giới nghiên cứu tìm hiểu trình độ thủ công và kỹ thuật luyện kim thời cổ đại. Các phân tích cho thấy chiếc cấm đồng được chế tác bằng kỹ thuật đúc thất lạp, một phương pháp cho phép tạo ra những cấu trúc phức tạp và chi tiết tinh xảo.

Đúc thất lạp là kỹ thuật sử dụng mẫu sáp để tạo hình vật đúc. Sau khi hoàn thiện mẫu, người thợ phủ vật liệu chịu nhiệt bên ngoài, nung để sáp chảy ra, tạo thành khoảng trống bên trong khuôn. Kim loại nóng chảy sau đó được rót vào khuôn, tạo nên sản phẩm có hình dáng theo mẫu ban đầu.

Phương pháp này đòi hỏi người thợ phải có kiến thức về vật liệu, nhiệt độ, cấu trúc khuôn và khả năng kiểm soát quá trình đúc. Việc tạo ra một hiện vật lớn, có nhiều chi tiết trang trí như cấm đồng hoa văn mây cho thấy kỹ thuật đúc đồng thời Xuân Thu đã đạt trình độ đáng kể.

Đặc biệt, việc chế tác một hiện vật nặng gần 100 kg với nhiều chi tiết phức tạp đòi hỏi sự phối hợp giữa kinh nghiệm thủ công và kiến thức kỹ thuật. Người thợ phải tính toán tỷ lệ, thiết kế mẫu sáp, kiểm soát độ dày khuôn và quá trình rót kim loại nóng chảy. Chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể khiến sản phẩm bị biến dạng hoặc xuất hiện vết khuyết tật.

Để hoàn thành một hiện vật nặng 95,5 kg, người thợ có thể cần đến nguồn nguyên liệu lớn, công cụ chuyên dụng và sự phối hợp của nhiều người có tay nghề. Đây là dấu hiệu cho thấy nghề luyện kim đã phát triển vượt khỏi phạm vi sản xuất thủ công nhỏ lẻ.

Ngày nay, thông qua phân tích thành phần kim loại, dấu vết chế tác và cấu trúc hiện vật, các chuyên gia có thể phục dựng phần nào quy trình sản xuất cổ đại. Nhờ vậy, báu vật này tiếp tục mang đến những dữ liệu quý giá về lịch sử công nghệ, đồng thời giúp thế hệ sau hiểu rõ hơn năng lực sáng tạo của các nền văn minh cổ.

Giá trị của chiếc cấm đồng không chỉ nằm ở tuổi đời hay vẻ ngoài cầu kỳ. Hiện vật còn cho thấy người thợ cổ đại có khả năng kết hợp kỹ thuật đúc phức tạp với tư duy tạo hình, biến kim loại thành một tác phẩm vừa có công năng vừa mang giá trị nghệ thuật.

Cùng với hơn 1.000 di vật được tìm thấy trong quần thể mộ cổ, chiếc cấm đồng hoa văn mây góp phần mở rộng hiểu biết về đời sống và trình độ kỹ thuật của cư dân thời Xuân Thu. Những bằng chứng vật chất như vậy giúp lịch sử không chỉ được tái dựng từ văn bản mà còn được kiểm chứng qua dấu tích còn lại.

Quảng Trị hoàn thành khai quật và số hóa 22.000 mộ liệt sĩ chưa rõ danh tính

Sau 160 ngày nỗ lực, Quảng Trị đã hoàn thành lấy mẫu hài cốt liệt sĩ phục vụ giám định ADN, mở ra hy vọng xác định danh tính các liệt sĩ còn thiếu thông tin.

Ngày 22/10, Ban Chỉ đạo Tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ tỉnh Quảng Trị tổ chức hội nghị tổng kết nhiệm vụ năm 2026 và sơ kết giai đoạn 1 "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Theo đó, trong năm 2026 và giai đoạn 1 của chiến dịch, các lực lượng đã tìm kiếm, quy tập được 221 hài cốt liệt sĩ. Trong đó, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Trị quy tập 183 hài cốt, Sư đoàn 968 quy tập 17 hài cốt và Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337 quy tập 21 hài cốt.

Khai quật mộ cổ, phát hiện hàng trăm báu vật

Tại Tứ Xuyên (Trung Quốc), các nhà khảo cổ tìm thấy 396 hiện vật gồm vàng, bạc, ngọc, gốm sứ và phù điêu đá, tái hiện đời sống của gia tộc thổ ty họ Vương.

Gia tộc thổ ty tồn tại gần 800 năm

Gia tộc họ Vương ở Bình Vũ là một trong những dòng họ thổ ty có lịch sử lâu dài tại Tứ Xuyên (Trung Quốc). Dòng họ này bắt đầu từ thời Nam Tống, tiếp tục tồn tại qua các thời Nguyên, Minh, Thanh và kéo dài tới thời Dân Quốc, với lịch sử gần 800 năm.

Quan thanh liêm qua đời chỉ bó chiếu cỏ, mộ có 22 bảo vật

Vương Sĩ Kỳ được cho là qua đời trong cảnh khó khăn, nhưng ngôi mộ hơn 300 năm sau chứa 107 hiện vật, trong đó 22 món được xếp hạng văn vật quốc gia.

Qua đời chỉ được bó bằng chiếu cỏ

Tại khu vực Trương Gia Độ, thành phố Lâm Hải, tỉnh Chiết Giang (Trung Quốc), một người dân trong lúc sửa sang khu vực chuồng lợn đã vô tình phát hiện một ngôi mộ cổ. Những gì xuất hiện bên dưới lớp đất nhanh chóng gây chú ý: hàng loạt đồ vàng, bạc và trang sức tinh xảo được tìm thấy trong mộ.