Trao đổi với PV Báo Tri thức và Cuộc sống nhân dịp Xuân Bính Ngọ, TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA; TS Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành Economica Việt Nam; PGS.TS Bùi Thị An, nguyên đại biểu Quốc hội khóa 13, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng; TS Nguyễn Sĩ Dũng, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ; Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng); GS.TSKH Nguyễn Đình Đức (Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội), ThS. Nguyễn Thị Mai Hương, Tổng biên tập Báo Tri thức và Cuộc sống đều kỳ vọng một kỷ nguyên dấn thân, thần tốc và khát vọng phát triển bền vững từ thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đang mở ra vận hội phồn vinh, thịnh vượng của dân tộc.
Trong bối cảnh thế giới đang chuyển động nhanh chóng dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia, Việt Nam đứng trước thời cơ lớn để tái định vị mô hình phát triển theo hướng dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo và năng suất chất lượng cao. Những định hướng chiến lược được xác lập từ Đại hội Đảng lần thứ XIV đặt nền tảng để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực trung tâm của phát triển, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng thích ứng trước những biến động nhanh chóng của thế giới.
Đối với đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, vận hội mới đồng thời là yêu cầu về trách nhiệm và hành động. Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam xác định rõ vai trò nòng cốt trong tư vấn chính sách, phản biện xã hội, thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao tri thức vào thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội. Mỗi thành tựu khoa học cần được gắn chặt với thực tiễn phát triển, tạo ra giá trị mới cho sản xuất, kinh doanh và nâng cao chất lượng sống của người dân.
Xuân mới 2026 không chỉ là dấu mốc chính trị quan trọng, mà còn mở ra một chu kỳ thời gian - khởi đầu cho giai đoạn hành động quyết liệt, phát huy trí tuệ, khơi dậy tinh thần dấn thân và trách nhiệm của đội ngũ trí thức đối với sự nghiệp phát triển đất nước.
“Khi niềm tin chính trị, quyết tâm cải cách và sức mạnh của khoa học – công nghệ cùng hội tụ, vận hội mới sẽ được chuyển hóa thành những bước tiến cụ thể, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát triển nhanh và bền vững của toàn xã hội, hướng tới một giai đoạn bứt phá mang tầm chiến lược”, TSKH Phan Xuân Dũng tin tưởng nói.
Mỗi mùa Xuân đến, dân tộc Việt Nam lại khơi dậy truyền thống đoàn kết, ý chí tự cường và khát vọng vươn lên. Xuân năm nay càng thêm ý nghĩa khi thành công của Đại hội XIV đã tạo nền tảng chính trị – chiến lược vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc, cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng gay gắt, việc xác lập tầm nhìn dài hạn và lựa chọn con đường phát triển bền vững có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đại hội Đảng lần thứ XIV đã khẳng định quyết tâm tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết.
Những thành tựu sau gần bốn thập niên đổi mới đã tạo nền tảng vững chắc: kinh tế tăng trưởng ổn định, hội nhập quốc tế sâu rộng, vị thế quốc gia được nâng cao, đời sống nhân dân cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, những thách thức về chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, chuyển đổi mô hình phát triển và thích ứng với biến động toàn cầu đòi hỏi những quyết sách mạnh mẽ hơn.
Trong đó, thách thức trước hết là thể chế chồng chéo, nơi nhiều quy định chưa thống nhất, nhiều thủ tục còn rườm rà, nhiều cơ chế phối hợp thiếu rõ ràng, khiến chi phí tuân thủ tăng cao và làm “tắt” dòng chảy của sáng tạo. Thể chế phải trở thành động lực phát triển, chứ không thể là “hàng rào” vô hình.
Thứ hai là năng suất lao động – một thước đo bản chất của sức cạnh tranh quốc gia. Năng suất thấp không chỉ do công nghệ, mà còn do quản trị, do kỹ năng, do kỷ luật lao động, và do môi trường khuyến khích đổi mới chưa đủ mạnh. Nếu không tạo ra một cuộc chuyển đổi năng suất, chúng ta sẽ khó bứt phá thu nhập trung bình và càng khó bước vào nhóm nước phát triển.
Thứ ba là chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực cho khoa học công nghệ, công nghiệp văn hóa, công nghiệp số, và các ngành kinh tế mới. Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh yếu tố văn hóa: nguồn nhân lực không chỉ cần “tay nghề”, mà cần “tư duy”, cần khả năng sáng tạo, cần bản lĩnh hội nhập, và cần nền tảng đạo đức nghề nghiệp. Một xã hội mạnh phải bắt đầu từ con người mạnh.
Thứ tư là năng lực thực thi chính sách. Đây có lẽ là điểm nghẽn đáng suy nghĩ nhất. Nhiều quyết sách đúng, nhưng khi triển khai lại bị chậm, bị lệch, bị phân tán trách nhiệm. Do đó, nhiệm kỳ mới phải xây dựng một hệ thống thực thi có kỷ luật, có đánh giá, có kiểm tra và có đo lường kết quả. Thực thi phải trở thành “văn hóa công vụ” lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân làm chuẩn mực.
Tôi tin rằng, tháo được những điểm nghẽn này, đất nước không chỉ tăng trưởng nhanh hơn, mà còn bước vào kỷ nguyên mới với một nền tảng vững vàng hơn về kinh tế, về xã hội, và cả về sức mạnh tinh thần của dân tộc. Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã qua mà còn mở ra một giai đoạn phát triển mới với tư duy chiến lược sâu sắc, nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Xã hội đặc biệt quan tâm đến công tác cán bộ – yếu tố then chốt quyết định hiệu quả triển khai các chủ trương, chính sách. Có thể nói, công tác lựa chọn nhân sự cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thể hiện sự kết hợp giữa kế thừa và đổi mới, mang lại hy vọng lớn cho công tác lãnh đạo đất nước trong giai đoạn mới. Thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIV đã kiện toàn đội ngũ lãnh đạo với kỳ vọng cao về bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm. Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương vừa được Đại hội XIV bầu ra thể hiện tính kế thừa, tính ổn định nhưng vẫn đổi mới. Đất nước đang chuyển sang giai đoạn mới phát triển nhanh và bền vững. Đây là đội ngũ xứng đáng được lựa chọn mà dám dấn thân, dám chịu trách nhiệm, dám làm và làm theo hướng kiến tạo quốc gia. Có thể khẳng định, công tác cán bộ tiếp tục được đặt ở vị trí “then chốt của then chốt”, bảo đảm lựa chọn những người có năng lực thực tiễn, tư duy đổi mới và tinh thần phụng sự nhân dân. Giới trí thức, doanh nghiệp và Nhân dân kỳ vọng đội ngũ cán bộ nhiệm kỳ mới sẽ đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia; thúc đẩy cải cách thể chế, tạo môi trường phát triển minh bạch, cạnh tranh; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, phòng chống tham nhũng, tiêu cực; đưa khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển chủ đạo.
Đại hội lần thứ XIV của Đảng đề ra mục tiêu giai đoạn 2026-2030, tăng trưởng bình quân phải đạt ít nhất 10%/năm; đến năm 2030 trở thành nước thu nhập trung bình cao, năm 2045 trở thành nước thu nhập cao, đòi hỏi quyết tâm lớn của cả hệ thống chính trị. Điều này đặt ra yêu cầu Việt Nam phải thay đổi mô hình tăng trưởng và khai phóng các động lực mới để tạo nên sức bật, hiện thực hóa khát vọng vươn xa của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Để các động lực tăng trưởng mới được phát huy, cần tháo gỡ 3 điểm nghẽn về thể chế, pháp luật; nguồn lực vốn cho hạ tầng, khoa học công nghệ, chuyển đổi số còn phân tán; tỷ lệ chi cho R&D chỉ khoảng 0,5% GDP - thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và chất lượng nguồn nhân lực thấp, thiếu nhân lực trình độ cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ, năng lượng tái tạo, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn.
Cùng với đó, cần ba nhóm giải pháp chính để kích hoạt, khai phóng các động lực tăng trưởng mới. Cụ thể, đột phá về thể chế, xây dựng chính phủ kiến tạo, pháp luật phải đi trước, gắn trách nhiệm cá nhân trong thực thi, giảm thiểu sự can thiệp hành chính vào thị trường. Thiết kế các cơ chế tài chính đủ mạnh như:quỹ đổi mới sáng tạo quốc gia; tín dụng xanh; cơ chế hợp tác công tư (PPP) minh bạch cho hạ tầng chiến lược; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ, chuyển đổi số. Phát triển nguồn nhân lực, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường, tạo môi trường thu hút nhân tài, khuyến khích hợp tác doanh nghiệp - trường đại học - viện nghiên cứu. Khi thể chế được khơi thông, nguồn lực đủ mạnh, con người được chuẩn bị kỹ lưỡng, các động lực tăng trưởng sẽ thực sự được giải phóng, giúp nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Một điểm nhấn chiến lược của giai đoạn phát triển mới là yêu cầu tăng trưởng đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Mục tiêu phát triển không chỉ là quy mô kinh tế mà còn là chất lượng sống của người dân. Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh vai trò trung tâm, chủ thể của Nhân dân. Những nội dung về dân chủ xã hội chủ nghĩa, về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, về chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người dân cần được triển khai một cách thực chất, không hình thức, để mỗi người dân đều cảm nhận rõ ràng mình là chủ thể và là người thụ hưởng thành quả của công cuộc đổi mới.
Chính sách dân sinh tiếp tục được coi trọng với các định hướng: Nâng cao chất lượng y tế, chăm sóc sức khỏe toàn dân; phát triển giáo dục toàn diện, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; mở rộng mạng lưới an sinh xã hội, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Việc đặt con người làm trung tâm của mọi chính sách phát triển chính là nền tảng để duy trì tăng trưởng bền vững, tạo đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin lâu dài.
Đại hội Đảng lần thứ XIV tiếp tục xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt, “chiếc đũa thần” của sự tăng trưởng, là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia và là trụ cột của phát triển bền vững thể hiện bước tiến lớn về nhận thức, phản ánh tầm nhìn dài hạn và sự nhạy bén của Đảng, Nhà nước trước những xu thế phát triển của thế giới. Những chủ trương, nghị quyết quan trọng của Đảng và Nhà nước thể hiện ý chí, quyết tâm chính trị rất cao trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ.
Các định hướng về phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số quốc gia, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy nghiên cứu cơ bản gắn với ứng dụng, phát triển các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, cũng như chiến lược phát triển giáo dục đại học và nhân lực chất lượng cao đã tạo nên một khung chính sách ngày càng đồng bộ, rõ ràng và có chiều sâu. Đặc biệt, vai trò của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, giảng viên đại học, chuyên gia công nghệ được nhấn mạnh không chỉ như lực lượng thực thi mà còn có vai trò then chốt, là chủ thể kiến tạo tri thức, tham gia hoạch định chính sách và dẫn dắt đổi mới.
Cùng với đó việc ban hành rất nhanh và khẩn trương Luật Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, Luật Giáo dục đại học và một loạt các luật, nghị định liên quan trong năm 2025 đã tháo gỡ những rào cản thể chế, tài chính, hành chính về quản lý khoa học, cơ chế tài chính cho nghiên cứu, thúc đẩy tự chủ đại học, gắn kết Viện – Trường – Doanh nghiệp.
Mặc dù vẫn còn những thách thức trong quá trình triển khai, nhưng đã cho thấy hướng đi đúng đắn và quyết tâm, quyết liệt đổi mới từ gốc rễ. Đó là tiền đề quan trọng để Khoa học Việt Nam từng bước hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, đồng thời giải quyết hiệu quả những bài toán lớn của đất nước. Với nền tảng đó, tôi hoàn toàn tin tưởng và cho rằng Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để bứt phá, cất cánh mạnh mẽ và vững chắc, từng bước khẳng định vị thế quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên của đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường và thịnh vượng, hội nhập sâu rộng, tự chủ công nghệ và phát triển bền vững.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thành công tốt đẹp không chỉ khơi dậy niềm tin, mà còn "nâng cấp" niềm tin ấy thành một cam kết lịch sử về hành động và kết quả. “Ngọn lửa niềm tin tất thắng" mà Đại hội XIV thắp lên không phải là niềm tin cảm tính hay niềm tin được tạo ra từ những khẩu hiệu lớn, mà là niềm tin được đặt trên ba nền tảng rất thực. Đó là, niềm tin vào con đường đã được kiểm chứng; niềm tin vào năng lực tự làm mới của Đảng và hệ thống chính trị và niềm tin vào sức mạnh của Nhân dân khi được khơi thông và trao cơ hội.
Có thể khẳng định, dấu ấn lớn nhất của Báo cáo các văn kiện trình Đại hội XIV không nằm ở việc nêu ra thật nhiều mục tiêu hay khẩu hiệu mới, mà ở chỗ đã tái định nghĩa lại cách Đảng nhìn nhận con đường đi tới hai mục tiêu chiến lược 100 năm, bằng một tư duy phát triển chín muồi, thực tế và hành động hơn. Bốn điểm mới cốt lõi làm nên "bệ phóng" chiến lược của Đại hội gồm: chuyển từ tư duy "định hướng phát triển" sang tư duy "kiến tạo năng lực phát triển"; xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên động lực nội sinh, thay vì dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô; đặt yêu cầu hành động và trách nhiệm thực thi lên hàng đầu và nâng tầm tư tưởng "dân là gốc" thành thước đo cao nhất của mọi quyết sách. Từ đó, có thể nói, Báo cáo trình Đại hội XIV không chỉ là một bản tổng kết hay định hướng, mà là một "bản thiết kế chiến lược" cho giai đoạn bản lề của lịch sử phát triển đất nước.
Điểm đáng chú ý, Đại hội XIV ban hành Chương trình hành động kèm theo Nghị quyết là một đột phá rất sâu về tư duy lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng. Đây không chỉ là một cải tiến về hình thức, mà là một bước chuyển căn bản từ Đảng "định hướng" sang Đảng "dẫn dắt bằng hành động". Điểm mới mang tính đột phá ở chỗ Nghị quyết không còn dừng ở việc trả lời "đúng hay không", mà đi thẳng vào câu hỏi "làm thế nào để thành công". Tinh thần mà Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh "lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả" thực chất là một chuỗi logic hành động hoàn chỉnh, lần đầu tiên được đặt ở vị trí trung tâm của một Nghị quyết Đại hội.
Có ba điểm đáng chú ý, chương trình hành động đã đưa Nghị quyết tiến sát tới cuộc sống; tinh thần hành động được nâng lên thành kỷ luật phát triển và Chương trình hành động tạo ra sự đồng bộ hiếm có giữa Đảng, Nhà nước và xã hội. Có thể nói, tinh thần hành động mà Đại hội XIV khởi xướng là tinh thần của một dân tộc bước vào giai đoạn phát triển mới: Khát vọng lớn, nhưng không mơ hồ; Tầm nhìn xa, nhưng không trì hoãn; Quyết tâm cao, nhưng gắn chặt với trách nhiệm và kết quả.
Niềm tin xã hội được củng cố từ những thành quả đạt được và từ tầm nhìn chiến lược của nhiệm kỳ mới. Trên khắp mọi miền đất nước, tinh thần chung là chủ động, sáng tạo, sẵn sàng nắm bắt cơ hội phát triển. Xuân mới vì thế không chỉ là mùa của lễ hội mà còn là mùa của trách nhiệm và hành động. Khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc đang trở thành ý chí chung của toàn dân tộc.
Năm 2026 là năm bản lề đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, khởi đầu giai đoạn "tăng tốc" để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, công nghiệp hoá với tầm nhìn tới năm 2045. Trong năm 2026, nhiều chính sách, cơ chế đặc thù sẽ được triển khai với nhiều dự án trọng điểm quốc gia sẽ được kích hoạt mạnh mẽ ngay từ năm này để tạo đà cho cả giai đoạn 2026-2030.
Đây cũng năm khởi đầu cho một chu kỳ tăng trưởng mới nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững với kỳ vọng bù đắp cho giai đoạn chịu ảnh hưởng bởi đại dịch và biến động địa chính trị trước đó, đồng thời khởi đầu cho một lộ trình dứt khoát để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, và năng suất các nhân tố tổng hợp trong đó nhân tố vốn con người đóng vai trò trung tâm.
Trong bối cảnh đó, các chính sách điều hành kinh tế cần đặt trọng tâm vào việc duy trì ổn định về chính trị, kinh tế vĩ mô cùng niềm tin của nhà đầu tư và người tiêu dùng. Các nỗ lực nhằm cải cách thể chế, cải cách môi trường kinh doanh sẽ thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, kích thích đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào KHCN, đổi mới sáng tạo, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch nền kinh tế sang một mô hình hiệu quả hơn, dựa nhiều hơn vào công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng suất.
Vận hội trước mắt của nền kinh tế Việt Nam là vô cùng lớn, nhưng nó sẽ không tự đến, hoặc đến với chúng ta một cách dễ dàng. Nó sẽ trở thành hiện thực khi chúng ta biết nắm bắt thời cơ và hành động quyết liệt. Chúng ta cùng kỳ vọng năm 2026 sẽ có nhiều hành động quyết liệt hơn nhằm tiếp tục cải cách về thể chế, chính sách, phát huy nguồn vốn con người, các giá trị văn hoá, giáo dục, y tế, phát triển mạnh mẽ hơn của KHCN, chuyển đổi số, huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực của nền kinh tế từ khu vực tư nhân, Nhà nước, các nhà đầu tư nước ngoài, để cùng cống hiến, hiện thực hóa khát vọng thịnh vượng, hùng cường của nền kinh tế.
Xuân mới – Năm mới – Vận hội mới là lời hiệu triệu để báo chí cách mạng tiếp tục tiên phong đổi mới, giữ vững bản lĩnh, phụng sự Tổ quốc và Nhân dân bằng thông tin chính xác, nhân văn và có sức dẫn dắt trong kỷ nguyên phát triển mới.
Việc Quốc hội thông qua Luật Báo chí (sửa đổi) năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, kiến tạo hành lang pháp lý để hệ thống báo chí phát triển hiện đại, minh bạch và trách nhiệm. Luật không chỉ tái khẳng định sứ mệnh chính trị – xã hội của báo chí cách mạng, mà còn mở rộng không gian đổi mới mô hình tòa soạn, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng chuẩn nghề nghiệp và tăng cường năng lực cạnh tranh, phát huy hiệu quả chức năng định hướng thông tin, phản biện chính sách và bảo vệ các giá trị chân – thiện – mỹ trong môi trường thông tin đa chiều, tốc độ cao.
Trong bối cảnh công chúng đòi hỏi thông tin nhanh nhưng phải chuẩn xác và có chiều sâu, báo chí cách mạng cần chuyển từ “đưa tin” sang “tạo giá trị”. Mỗi tòa soạn cần trở thành trung tâm tri thức, ứng dụng dữ liệu, công nghệ và phương thức kể chuyện đa nền tảng để phục vụ công chúng, bạn đọc ngày càng thông thái, đồng thời giữ vững bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực nghề báo.
Đối với Báo Tri thức và Cuộc sống, Năm Bính Ngọ là thời điểm thực hiện Kế hoạch 05 năm lần thứ hai - tăng tốc chiến lược phát triển theo chiều sâu tri thức, khoa học và phản biện có trách nhiệm. Tòa soạn tiếp tục kết nối đội ngũ chuyên gia, nâng chuẩn nội dung, xây dựng hệ sinh thái thông tin chất lượng cao, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao dân trí.
“Kỷ nguyên số cùng Luật Báo chí sửa đổi đặt ra yêu cầu các cơ quan báo chí tiếp tục đổi mới toàn diện, giữ vững bản lĩnh chính trị, phát huy vai trò định hướng thông tin, dư luận xã hội nhằm góp phần tạo dựng sự thống nhất về nhận thức, hành động trong quá trình phát triển đất nước”, nhà báo Mai Hương khẳng định.