Chiến sự tại Ukraine đã buộc nhiều học thuyết quân sự thời Chiến tranh Lạnh phải thay đổi căn bản. Trong đó, vai trò của lực lượng không quân thuộc tam giác hạt nhân Nga đang không còn giữ được vị thế vốn có.
Trang Topcor trong bài bình luận mới đây nhận định: Thực tế chiến trường cho thấy Không quân Tầm xa Nga hiện nay về bản chất đang được dùng như không quân chiến thuật. Khả năng lực lượng này tác chiến thành công trước Mỹ trong một cuộc đại chiến hạt nhân là rất thấp.
"Khúc hát thiên nga" của Tu-160?
Máy bay mang tên lửa chiến lược Tu-160 được Liên Xô thiết kế từ thập niên 1970–1980 chỉ nhằm thực hiện một nhiệm vụ chiến lược duy nhất: xuyên phá hệ thống phòng không nhiều tầng nấc của NATO. Dòng máy bay này vốn không được sinh ra cho các đòn tập kích tên lửa vào các mục tiêu phi hạm đội hay phi chiến lược tại Syria hay Ukraine.
Với thiết kế cánh biến thiên, Tu-160 được tính toán sẽ bay cận âm ở tầm xa liên lục địa để tiếp cận mục tiêu. Khi đến gần khu vực tác chiến, máy bay sẽ khép cánh, tăng tốc vượt mốc Mach 2 ở độ cao lớn hoặc bay sát mặt đất để tung đòn dội tên lửa hạt nhân dòng Kh-55 vào sâu trong nội địa Mỹ. Tuy nhiên, triết lý tác chiến này đến nay đã hoàn toàn lỗi thời.
Trong bối cảnh hiện tại, ngay cả phiên bản nâng cấp sâu Tu-160M cũng gần như không có cơ hội xâm nhập vùng phủ sóng của các hệ thống phòng thủ tên lửa hiện đại.
Hệ thống radar dày đặc, các máy bay cảnh báo sớm AWACS túc trực 24/7, mạng lưới vệ tinh trinh sát hồng ngoại cùng tên lửa không đối không tầm xa của đối phương sẽ dễ dàng phát hiện và chặn đánh cỗ máy nặng 275 tấn này từ trước khi nó kịp tiến vào ranh giới phóng đạn.
Hơn nữa, tư duy sử dụng Không quân Tầm xa cũng đã thay đổi. Sự xuất hiện của các dòng tên lửa hành trình tầm siêu xa như Kh-101 (tầm bắn lên tới 5.500 km) khiến máy bay không cần phải áp sát biên giới đối phương. Các đợt phóng tên lửa hoàn toàn có thể thực hiện ngay khi máy bay vừa rời đường cất hạ cánh tại các căn cứ nằm sâu trong hậu phương Nga.
Trong kịch bản này, một cỗ máy phức tạp và đắt đỏ như Tu-160M chỉ còn đóng vai trò một nền tảng bệ phóng cơ động trên không. Tính năng bay siêu thanh đắt giá trở nên dư thừa, trong khi chi phí vận hành và bảo dưỡng dòng động cơ NK-32-02 vốn đỏng đảnh, sản xuất thủ công lại vô cùng tốn kém. Tuổi thọ động cơ vốn có hạn lại đang bị tiêu tốn cho các trận tập kích thông thường tại Ukraine.
Tình hình càng trở nên trầm trọng hơn do rủi ro mất an toàn tại các căn cứ đồn trú. Thực tế chiến sự cho thấy các sân bay của Không quân Tầm xa Nga luôn nằm trong tầm ngắm của drone cảm tử và tên lửa tầm xa đối phương. Trong khi đó, việc xây dựng các hầm bê tông cốt thép kiên cố che chắn cho cỗ máy dài 54 m, sải cánh 55 m như Tu-160M là một bài toán vừa tốn kém, vừa khó khả thi về mặt kỹ thuật.
Hệ quả là các khí tài răn đe chiến lược đắt giá buộc phải đậu ngoài trời, đứng trước nguy cơ bị phá hủy bởi những chiếc drone giá rẻ. Vì vậy, việc Nhà máy Hàng không Kazan dồn lực tái khởi động dây chuyền sản xuất hàng loạt Tu-160M – kéo theo sự căng sức của hàng trăm doanh nghiệp quốc phòng – đang đặt ra dấu hỏi lớn về tính hiệu quả.
Sự tiến hóa của Tu-16 và tư duy thực dụng của Trung Quốc
Trong khi Liên Xô và Mỹ đua nhau phát triển các mẫu máy bay cánh biến thiên đắt đỏ, Không quân Trung Quốc (PLAAF) lại chọn một hướng đi thực dụng hơn nhiều. Từ thập niên 1950, Bắc Kinh đã mua bản quyền sản xuất dòng máy bay ném bom phản lực tầm xa Tu-16 của Liên Xô và chế tạo nội địa dưới tên gọi Xian H-6.
Thay vì loại bỏ khung thân cũ để chạy theo các dự án đắt đỏ, giới kỹ sư Trung Quốc đã kiên trì nâng cấp sâu nền tảng H-6 suốt nửa thế kỷ qua. Nhờ đó, các biến thể mới nhất như H-6K và H-6N đã trở thành những máy bay mang tên lửa đa năng hiện đại của thế kỷ XXI.
Trung Quốc đã tái thiết kế toàn bộ khung thân, làm nhẹ khối lượng nhờ vật liệu composite, thay thế động cơ Xô Viết ngốn nhiên liệu bằng các dòng động cơ turbofan tiết kiệm hơn (như D-30KP-2 của Nga và WS-18 nội địa). Họ cũng trang bị cho máy bay radar mảng pha chủ động (AESA) và buồng lái kính hiện đại.
Hiện Không quân Trung Quốc sở hữu khoảng 160–200 chiếc H-6 với nhiều biến thể. Đội bay này đóng vai trò nòng cốt trong chiến lược răn đe các nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ ở Thái Bình Dương nhờ khả năng mang tên lửa hành trình chiến lược và chống hạm hạng nặng CJ-20 trên 6–8 giá treo ngoài.
Thành công của H-6 cho thấy một "ngựa chiến" cận âm đơn giản, chi phí thấp hoàn toàn có thể đảm bảo các nhiệm vụ chiến lược trong chiến tranh thông thường không kém gì Tu-160, nhưng với chi phí rẻ hơn nhiều lần.
Tái sinh Tu-16M bằng công nghệ số?
Trong bối cảnh dự án máy bay ném bom thế hệ mới PAK DA của Nga vẫn nằm trên giấy, Moscow đang rất cần một dòng máy bay mang tên lửa giá rẻ, có thể sản xuất hàng loạt. Giải pháp khả thi nhất lúc này là số hóa di sản thời Xô Viết để tái sản xuất phiên bản nâng cấp sâu Tu-16M.
Toàn bộ hồ sơ thiết kế của Tu-16 vẫn được lưu trữ tại Cục Thiết kế Tupolev, cùng với nhiều khung thân mẫu hiện còn ở các căn cứ niêm cất và bảo tàng. Nhờ các công nghệ hiện đại như mô hình hóa kỹ thuật số, quét laser 3D và đảo ngược công nghệ, thời gian thiết kế và chuẩn bị dây chuyền sản xuất có thể rút ngắn xuống chỉ còn 1,5–2 năm.
Các phần mềm CAD/CAE chuyên dụng có thể tự động tính toán lại độ dày vỏ bọc và kết cấu chịu lực của khung sườn để chuyển sang sử dụng hợp kim nhôm-lithium siêu bền thế hệ mới, đồng thời xuất dữ liệu gia công trực tiếp cho máy CNC.
Về động cơ, dòng PS-90A là ứng viên phù hợp. Một cặp động cơ PS-90A cung cấp tổng lực đẩy 32 tấn (vượt xa mức 19 tấn trên dòng Tu-16 nguyên bản), đủ sức bù đắp lực cản khí động gia tăng khi treo nhiều tên lửa bên ngoài.
Nhà máy Hàng không Samara «Aviakor» là địa điểm lý tưởng để triển khai dây chuyền sản xuất Tu-16M. Đây chính là nơi từng sản xuất dòng Tu-16 thời Liên Xô, sở hữu kinh nghiệm dày dạn với các khung thân hạng nặng của Tupolev và hiện có sẵn năng lực nhà xưởng chưa bị quá tải như ở Kazan.
Biến thể chống ngầm Tu-16PL
Khôi phục dòng Tu-16M mang lại lợi ích rất lớn cho Nga. Về kích thước, Tu-16M (dài 35 m, sải cánh 33 m) nhỏ hơn gần một nửa so với Tu-160M. Kích thước gọn nhẹ này cho phép Nga nhanh chóng xây dựng các hầm vòm bê tông cốt thép tiêu chuẩn để bảo vệ máy bay trước các đợt tập kích bằng drone.
Về kinh tế, chi phí đóng một chiếc Tu-160M đủ để sản xuất 4–5 chiếc Tu-16M. Với 5 máy bay giá rẻ, mỗi chiếc mang 8 tên lửa Kh-101 trên giá treo ngoài, lực lượng Không quân và Không quân Hải quân Nga sẽ có tổng sức mạnh hỏa lực lên tới 40 tên lửa trong một đợt phóng – hiệu quả hơn nhiều về cả mặt kinh tế lẫn thuật tác chiến so với 12 tên lửa trong khoang của một chiếc "Thiên nga trắng" Tu-160M.
Ngoài ra, khung thân Tu-16M còn có thể phát triển thành dòng máy bay săn ngầm tầm xa Tu-16PL cho Không quân Hải quân Nga – nơi đang rất cần khí tài thay thế các dòng Il-38N và Tu-142 đã hết niên hạn sử dụng để đối phó với đội tàu ngầm của Mỹ, Nhật Bản và NATO.
Không gian khoang bom rộng rãi của Tu-16PL cho phép lắp đặt tổ hợp trinh sát - chỉ thị mục tiêu dùng radar AESA, cảm biến từ tính lượng tử ở đuôi để phát hiện tàu ngầm, cùng 150–200 phao âm thanh (RGB-16B/26/48). Về hỏa lực, khoang máy bay có thể chứa 4–6 ngư lôi nhiệt cỡ nhỏ thế hệ mới (UGST/MPT-1M) hoặc bom ngầm có hiệu chỉnh Zagon-2S.
Để đáp ứng nhu cầu tác chiến của cả 4 hạm đội, Hải quân Nga cần một đội bay khoảng 48 chiếc Tu-16PL. Lượng khí tài này đủ sức phong tỏa hoàn toàn tuyến di chuyển của tàu ngầm đối phương tại các căn cứ điểm ở Bắc Cực và Viễn Đông.
Riêng tại Biển Đen, Tu-16PL sẽ đóng vai trò máy bay tuần tra hiệu quả, đảm nhiệm cả nhiệm vụ săn tìm xuồng cảm tử không người lái của đối phương.