Trong đoạn video chia sẻ trên kênh cá nhân, Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk xuất hiện với chiếc nón lá trên tay, sau đó đặt món đồ cạnh chỗ ngồi trên máy bay. Đoạn video được đăng tải khi ông chia sẻ về kết quả chuyến công du Việt Nam và Ấn Độ, trong đó có những triển vọng hợp tác giữa Ba Lan và Việt Nam.
Chiếc nón lá trên máy bay của Thủ tướng Ba Lan - Ảnh cắt từ clip @DonaldTusk
Thưởng thức rau muống xào tỏi, mang nón lá lên máy bay rời Việt Nam
Trước đó, tối 25/10, Thủ tướng Ba Lan cùng đoàn công tác đã dùng bữa tại một nhà hàng trên phố Phan Bội Châu, Hà Nội. Thay vì sử dụng thực đơn được chuẩn bị sẵn, đoàn khách trực tiếp chọn món ăn tại quán.
Bữa tối của đoàn có những món quen thuộc như chả cá, bánh xèo, phở cuốn, nem chay và rau muống xào tỏi. Đại diện nhà hàng cho biết, ông Donald Tusk ấn tượng với bánh xèo, nem chay, phở cuốn, đặc biệt thích vị đậm đà của rau muống xào tỏi và nước mắm Việt Nam.
Sau những hình ảnh thưởng thức các món ăn Việt Nam tại Hà Nội, khoảnh khắc Thủ tướng Ba Lan mang theo chiếc nón lá lên máy bay lập tức thu hút sự chú ý. Nếu bữa ăn mang đến trải nghiệm độc đáo về ẩm thực thì chiếc nón lá gợi mở câu chuyện một vật dụng quen thuộc trở thành nét đặc trưng trong văn hóa Việt Nam.
Nón lá - biểu tượng của văn hóa Việt Nam
Nón lá ra đời từ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của người Việt. Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, nắng nhiều và những cơn mưa bất chợt, chiếc nón rộng vành trở thành vật dụng quen thuộc, giúp người dân che nắng, che mưa khi làm đồng, đi chợ hay đi lại ngoài trời.
Theo thời gian, nón lá vượt ra khỏi công dụng ban đầu để trở thành một hình ảnh đặc trưng của văn hóa Việt Nam. Từ những cánh đồng, phiên chợ quê đến sân khấu nghệ thuật và các hoạt động quảng bá du lịch, chiếc nón gắn liền với vẻ đẹp mộc mạc, bình dị của con người và quê hương.
Nón lá truyền thống thường có khung làm từ tre, nứa, được xếp bằng những lớp lá và cố định bằng các đường chỉ nhỏ. Mỗi chiếc nón là kết tinh của khoảng 10 công đoạn thủ công tỉ mỉ, từ xử lý lá, phơi nắng, phơi sương cho đến khâu nón, lồng nhôi, nứt cạp.
1. Nón lá làng Chuông
Nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 30km, làng Chuông thuộc xã Thanh Oai từ lâu nổi tiếng với nghề làm nón lá. Những chiếc nón nơi đây có nét riêng nhờ cấu trúc ba lớp gồm lá lót, mo nứa và lá ngoài, cùng 16 vòng khung được uốn đều từ chóp xuống vành. Nón thành phẩm phải chắc chắn nhưng vẫn giữ được độ mỏng, nhẹ và dáng vẻ thanh thoát.
Du khách mua nón làng Chuông về làm quà - Ảnh: gostay
Để làm nên một chiếc nón đẹp, người thợ phải tỉ mỉ ngay từ khâu chọn và xử lý lá. Lá được làm sạch, phơi và là phẳng trước khi xếp lên khuôn. Các vòng khung phải tròn đều, đường khâu bằng sợi cước trong suốt, chắc chắn và khó nhận ra khi nhìn từ bên ngoài.
Nghề làm nón ở làng Chuông được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Trước đây, làng từng sản xuất các loại nón ba tầm, nón thúng, nón quai thao với vành rộng. Khi nhu cầu sử dụng thay đổi, người thợ dần chuyển sang làm nón chóp gọn nhẹ, đồng thời phát triển thêm những mẫu nón trang trí phục vụ du khách.
2. Nón bài thơ xứ Huế
Ở Huế, nghề làm nón gắn với nhiều làng nghề lâu đời như Tây Hồ, Phú Cam, Dạ Lê, Đốc Sơ, Triều Tây, Kim Long và Sịa. Trong đó, làng Tây Hồ được biết đến là nơi ra đời của nón bài thơ, một biến tấu độc đáo từ chiếc nón lá truyền thống, được nhiều du khách lựa chọn làm quà khi ghé thăm cố đô.
Họa tiết của một chiếc nón khá tinh xảo và phức tạp - Ảnh: Lục Bộ
Theo Cổng thông tin du lịch Huế, nón bài thơ xuất hiện vào khoảng năm 1959-1960, gắn với sáng kiến của nghệ nhân Bùi Quang Bặc ở làng Tây Hồ. Ông đã nghĩ ra cách đưa những câu thơ vào giữa hai lớp lá, khiến chiếc nón quen thuộc trở nên đặc biệt hơn.
Điểm thú vị của nón bài thơ nằm ở những hình ảnh và câu chữ được giấu khéo léo bên trong. Người thợ cắt hoặc chạm các câu thơ, hoa văn trên giấy rồi đặt giữa hai lớp lá mỏng. Khi đưa nón lên trước ánh mặt trời, những nét chữ và hình ảnh mới dần hiện rõ.
Bên cạnh các câu thơ về xứ Huế, người thợ còn đưa vào nón hình ảnh cầu Trường Tiền, chùa Thiên Mụ, núi Ngự Bình hay những danh thắng quen thuộc của cố đô. Nhờ vậy, chiếc nón vừa là vật dụng hàng ngày, vừa là món quà lưu niệm mang đậm dấu ấn văn hóa địa phương.
3. Nón lá Thới Lai
Ở miền Tây Nam Bộ, làng nghề chằm nón lá Thới Lai nằm ven kênh Xẻo Xào, thuộc ấp Thới Tân A, xã Thới Lai, Cần Thơ. Nghề làm nón tại đây đã tồn tại hơn 70 năm, ban đầu là công việc phụ giúp người dân kiếm thêm thu nhập lúc nông nhàn, sau dần trở thành sinh kế của nhiều gia đình.
Nón Thới Lai được chia thành 2 loại chính: nón đi ruộng và nón đi chợ - Ảnh: Báo ảnh Việt Nam
Khác với nón làng Chuông hay nón bài thơ Huế, nón Thới Lai sử dụng lá mật cật và trúc làm nguyên liệu chính. Người thợ phải trải qua nhiều công đoạn như làm khuôn, chuốt vành, xếp lá và chằm nón. Trước đây, nón thường có 15 vành, nhưng từ sau thập niên 1980, người dân chuyển sang kiểu 16 vành để phù hợp với thị hiếu.
Điểm thú vị là nón Thới Lai được chia thành hai loại chính: nón đi ruộng và nón đi chợ. Nón đi ruộng có vành rộng, được làm dày dặn, chắc chắn để phục vụ công việc đồng áng. Trong khi đó, nón đi chợ được chọn lá kỹ hơn, chú trọng vẻ đẹp và sự tinh tế của từng đường chằm.
Ngày nay, nón lá không chỉ hiện diện trong đời sống mà còn là món quà lưu niệm được nhiều du khách lựa chọn khi đến Việt Nam. Bên cạnh nón lá, du khách có thể tìm mua gốm Bát Tràng, lụa Vạn Phúc, tranh sơn mài, đồ thủ công từ mây tre đan hay những đặc sản như trà, cà phê, kẹo dừa...