Bên lề Fortune Southeast Asia 500 Summit 2026 diễn ra tại TP.HCM ngày 3/11, chúng tôi có cuộc trao đổi với ông Lê Đăng Dũng, nguyên Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel), hiện là Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Hạ tầng Công nghệ cao Stavian (Stavian HighTech Infrastructure).
Sau nhiều năm gắn bó với Viettel, ông Dũng cho biết đang muốn vận dụng kinh nghiệm phát triển hạ tầng viễn thông vào một lĩnh vực mới: hạ tầng cho nền kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Sau nhiều năm gắn bó với Viettel, điều gì khiến ông lựa chọn Tập đoàn Stavian và muốn tạo dấu ấn gì trong giai đoạn mới?
Ông Lê Đăng Dũng: Tư tưởng chính của tôi là thế này. Trước đến giờ, những hạ tầng công nghệ cao, hạ tầng quan trọng của đất nước chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước làm. Nhưng bây giờ đã có những chủ trương mới, như Nghị quyết 57 về khoa học công nghệ, Nghị quyết 68 về kinh tế tư nhân, mở ra cơ hội cho các thành phần kinh tế cùng tham gia.
Sau khi rời Viettel, tôi muốn đi thuyết phục các doanh nghiệp tư nhân, những công ty làm bất động sản, tài chính, ngân hàng, đã có tiền rồi thì hãy bỏ tiền đầu tư vào công nghệ cao.
Cứ nhìn sang Trung Quốc, cách đây khoảng 5–10 năm, các tỷ phú lớn chủ yếu đến từ bất động sản, nhưng bây giờ công nghệ cao ngày càng chiếm vị trí quan trọng. Khi các công ty tư nhân bỏ tiền vào công nghệ, một là có lợi cho chính công ty ấy, nhưng quan trọng hơn là công nghệ giúp ích cho đất nước.
Tôi cũng đã đi trao đổi với một số tập đoàn tư nhân, cuối cùng tìm được sự đồng thuận tại Tập đoàn Stavian về việc đầu tư vào công nghệ cao.
Tôi làm ở Viettel bao nhiêu năm, và một trong những triết lý quan trọng nhất làm nên thành công của Viettel là hạ tầng trước, kinh doanh sau. Muốn kinh doanh tốt thì trước hết phải có hạ tầng tốt. Ngày xưa, Viettel phải có cáp quang tốt, trạm thu phát tốt, thiết bị tốt rồi mới cung cấp được dịch vụ tốt cho khách hàng.
Bây giờ chuyển sang kinh tế số, kinh tế dữ liệu thì hạ tầng của dữ liệu chính là trung tâm dữ liệu (data center). Muốn vận hành trung tâm dữ liệu phải có điện và cáp quang quốc tế. Tư tưởng của tôi là làm từ điện, cáp quang quốc tế, sau đó đến trung tâm dữ liệu, rồi mới xây dựng các mô hình AI và cuối cùng là các ứng dụng AI.
Nhưng để phát triển các trung tâm dữ liệu lớn như vậy, nguồn điện có phải là trở ngại lớn nhất hiện nay?
Đúng rồi, điện thực sự rất khó.
Việt Nam hiện có công suất nguồn điện khoảng 87 GW, nhưng chưa sẵn sàng cho sự bùng nổ của các trung tâm dữ liệu. Cứ nhìn xem, trên thế giới, các mô hình AI chỉ vài tháng lại xuất hiện cái mới, như Gemini, GPT hay Claude. Nhưng muốn vận hành được những mô hình đó thì trung tâm dữ liệu phải mất hàng năm để xây dựng, còn chuẩn bị điện hoặc cáp quang quốc tế có thể mất 3–4 năm.
Cho nên, muốn đến năm 2030 trung tâm dữ liệu bùng nổ ở Việt Nam thì phải đầu tư rất nhiều vào điện và truyền dẫn quốc tế ngay từ bây giờ. Đó chính là điều Tập đoàn Stavian đang làm.
Đầu tư công để phát triển điện thì có khả năng không thể đáp ứng hết được nhu cầu thực tiễn Tôi nghĩ nên học cách làm ở một số nước, chẳng hạn như Mỹ, doanh nghiệp nào xây dựng trung tâm dữ liệu lớn thì chủ động đầu tư nhà máy điện phục vụ trung tâm dữ liệu của mình.
Ngoài điện mặt trời, điện gió, bây giờ còn có những công nghệ điện - khí dạng module, lắp đặt nhanh chóng với chi phí tối ưu để doanh nghiệp chủ động tạo ra nguồn điện riêng. Khi đó, doanh nghiệp có thể phát triển một tổ hợp từ điện sang trung tâm dữ liệu, rồi đến các mô hình AI. Cuối cùng, hiệu quả kinh tế được tính trên cả chuỗi đó.
Vậy Tập đoàn Stavian đang chuẩn bị nguồn điện cho dự án trung tâm dữ liệu như thế nào?
Chúng tôi đang làm đồng bộ.
Hiện chúng tôi có một nhóm chuyên nghiên cứu về sản xuất điện. Quy định mới hiện nay đã cho phép mua điện trực tiếp (DPPA) từ các doanh nghiệp năng lượng tái tạo. Nhưng điểm khó là truyền tải vẫn phải qua EVN nên còn những hạn chế nhất định.
Ở khu vực Vũng Tàu, gần Long Sơn, có hạ tầng khí và nguồn điện khí mà chúng tôi đang xem xét khả năng mua điện.
Đồng thời, Tập đoàn Stavian tiếp tục nghiên cứu làm điện mặt trời trên quỹ đất hơn 300 ha của dự án, kết hợp với phương án xây dựng một nhà máy điện khí LNG riêng.
Tôi nghĩ những ngành tiêu thụ điện quá lớn thì nên chủ động làm điện. Chứ nếu tất cả cùng trông chờ vào nguồn điện chung, trong khi nhu cầu trung tâm dữ liệu tăng rất nhanh, sẽ rất khó đáp ứng.
Ngoài LNG và năng lượng tái tạo, ông còn đề cập đến điện hạt nhân module nhỏ. Tập đoàn Stavian có thực sự tính đến phương án này?
Mong muốn lâu dài hơn của chúng tôi là triển khai, lắp đặt SMR (Small Modula Reactor), tức lò phản ứng hạt nhân module nhỏ.
Hiện nay công nghệ này vẫn rất đắt, nhưng tôi kỳ vọng sau khoảng năm 2028–2030, khi được thương mại hóa ở Mỹ, giá thành sẽ giảm nhanh. Công nghệ SMR có nền tảng từ những lò phản ứng hạt nhân cỡ nhỏ từng được phát triển cho tàu quân sự, sau đó được nghiên cứu để ứng dụng trong dân sự.
Gọi là module vì người ta sản xuất sẵn các module rồi mang đến lắp đặt, chứ không phải xây một nhà máy điện hạt nhân rất lớn theo cách truyền thống. Công nghệ trên thế giới hiện thay đổi rất nhanh, đặc biệt là theo xu hướng module hóa và đồng thời cũng được thương mại hóa và đi vào triển khai, ứng dụng cũng rất linh hoạt và nhanh chóng.
Ngày xưa một công nghệ mới phải mất 10–20 năm mới xuất hiện, nhưng bây giờ có khi chỉ một năm đã có công nghệ mới. Nếu cứ triển khai làm điện theo cách truyền thống, tức là làm một nhà máy điện mất 10–20 năm thì làm sao theo kịp nhu cầu? Phải tìm cách để chỉ vài năm là có thể đưa nhà máy điện vào hoạt động.
Theo tôi, một hướng đi để chủ động nguồn điện cho mỗi doanh nghiệp là phát triển nhiều nhà máy điện nhỏ, phân tán, sử dụng công nghệ module.
Như vậy, ông mong muốn doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia cả lĩnh vực điện hạt nhân?
Tôi nghĩ Chính phủ nên tạo điều kiện để doanh nghiệp làm, còn Nhà nước kiểm tra, quản lý, giám sát chặt chẽ các tiêu chuẩn an toàn và đặc biệt là các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia. Nhưng với hoạt động thương mại, nên tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động làm việc với đối tác công nghệ quốc tế.
Doanh nghiệp đàm phán trực tiếp với doanh nghiệp nước ngoài thì nhiều khi nhanh hơn. Quan trọng nhất là làm xong phải có đầu ra. Một doanh nghiệp xây dựng nhà máy điện để phục vụ chính trung tâm dữ liệu của mình thì đã có nhu cầu sử dụng điện ở đó rồi.
Khi làm đồng bộ từ điện, trung tâm dữ liệu đến AI, doanh nghiệp có thể tính toán hiệu quả của cả tổ hợp chứ không phải từng dự án riêng lẻ.
Bên cạnh nguồn điện, Tập đoàn Stavian đang triển khai tuyến cáp quang biển quốc tế trị giá khoảng 400 triệu USD. Ông có thể cập nhật tiến độ dự án?
Theo quy hoạch của Chính phủ, đến năm 2030 Việt Nam phải có ít nhất 9 tuyến cáp quang biển. Hiện nay, các tuyến cáp biển của chúng ta chủ yếu phục vụ nhu cầu truy cập internet, dung lượng còn hạn chế nếu muốn phát triển những trung tâm dữ liệu rất lớn. Chúng tôi đang làm tuyến cáp kết nối từ TP.HCM đến Rayong của Thái Lan, Johor của Malaysia và Singapore. Đây đều là những khu vực có hệ thống trung tâm dữ liệu lớn.
Tuyến cáp được thiết kế với 16 cặp sợi quang, công nghệ dự kiến cho dung lượng khoảng 400 Tbps. Theo tính toán của chúng tôi, dung lượng này có thể lớn gấp 4–5 lần tổng dung lượng các tuyến cáp biển Việt Nam trước đây.
Muốn đưa TP.HCM trở thành một trung tâm dữ liệu của khu vực, giống như Johor hay Rayong, thì bắt buộc phải có kết nối quốc tế đủ lớn. Trạm cập bờ của tuyến cáp quang biển này nằm ở Vũng Tàu. Sau đó chúng tôi sẽ xây dựng hệ thống cáp kết nối từ Vũng Tàu về TP.HCM, Đồng Nai, Bình Dương, nơi có nhiều doanh nghiệp cần sử dụng dữ liệu.
Hiện dự án đang xét thầu lựa chọn nhà cung cấp cáp quang biển và hợp tác với các đơn vị quốc tế để tư vấn công nghệ. Cáp quang biển không chỉ là câu chuyện sản xuất được sợi cáp. Quan trọng còn là công nghệ thi công, đào sâu và chôn cáp dưới đáy biển để hạn chế bị đứt. Những công việc ấy cần đội tàu hiện đại và robot tự động, hiện vẫn chỉ có một số doanh nghiệp quốc tế đủ năng lực làm.
Chúng tôi dự kiến cuối năm 2028 hoặc đầu năm 2029 sẽ đưa tuyến cáp vào khai thác.
Dự án có những đối tác nào tham gia đầu tư? Nguồn vốn và khách hàng đã được chuẩn bị đến đâu?
Chúng tôi có một quỹ đầu tư Nhật Bản là Midas Capital cùng tham gia. Hai bên thành lập liên doanh tại Singapore với tỷ lệ sở hữu 51/49, trong đó Tập đoàn Stavian nắm 51%.
Bên cạnh đó, các tổ chức tài chính cũng sẵn sàng hỗ trợ khi đánh giá tính khả thi của dự án, đặc biệt là số lượng khách hàng tiềm năng sẵn sàng sử dụng dịch vụ (mua trước dung lượng). Chúng tôi đánh giá tại Việt Nam, một số doanh nghiệp công nghệ viễn thông lớn tại việt nam cũng là những khách hàng tiềm năng, do tầm quan trọng của việc kết nối dữ liệu sang Singapore (là Digital / Subsea Cable Hub của thế giới) rồi từ đó kết nối tiếp sang châu Âu và Mỹ.
Sau tuyến này, chúng tôi còn tính đến khả năng phát triển một tuyến cáp thứ hai nối sang Nhật Bản và xa hơn nữa là đi Mỹ.
Còn dự án Stavian Digital Park với công suất 300 MW, hiện đã có khách hàng và đối tác công nghệ chưa?
Với dự án về trung tâm dữ liệu, chúng tôi cũng đã có sẵn các khách hàng. Tại Tập đoàn Stavian, chúng tôi xác định hạ tầng và thị trường phải song hành với nhau. Một bên lo chuẩn bị hạ tầng, một bên phát triển thị trường, tìm kiếm khách hàng. Hai việc ấy phải đi cùng nhau. Triết lý của tôi là không bao giờ triển khai một dự án mà không biết khách hàng của mình là ai.
Stavian Digital Park và tuyến cáp biển cũng là hai dự án triển khai song song. Hai dự án vừa kết nối, vừa tạo động lực cho nhau. Muốn làm trung tâm dữ liệu thì bắt buộc phải có cáp quang và đủ điện.
Chúng tôi đang tiếp tục tìm kiếm các nhà đầu tư, các đối tác hyperscaler để cùng phát triển dự án. Việc tìm kiếm các đối tác, nhà đầu tư này không chỉ vì vấn đề tài chính mà quan trọng hơn là sự hỗ trợ về công nghệ và giúp chúng ta tiếp cận các dòng chip và Bộ xử lý GPU tiên tiến phục vụ cho AI.
Cơ cấu cổ đông của dự án trung tâm dữ liệu có thể sẽ khác với tuyến cáp biển, tùy theo những đối tác cùng tham gia.
Nếu có 1 tỷ USD để đầu tư vào lĩnh vực AI tại Việt Nam, ông sẽ chọn làm gì?
Tôi vẫn chọn hạ tầng. Nếu có 1 tỷ USD, tôi sẽ đầu tư xây dựng một trung tâm dữ liệu công suất khoảng 100 MW. Phải có trung tâm dữ liệu thì mới phục vụ được thị trường phát triển AI Việt Nam, mới xây dựng được những mô hình AI và phần mềm AI chủ quyền.
Chúng ta không nhất thiết phải tự làm tất cả. , chúng ta vẫn có thể sử dụng những mô hình AI phổ biến và tiên tiếnthành tựu của thế giới.Bên cạnh việc vẫn sử dụng những mô hình AI phổ biến và tiên tiến của thế giới như Gemini, ChatGPT hay Claude, nnhưng những phần liên quan đến văn hóa, chính trị, an ninh và chủ quyền dữ liệu thì phải phát triển được mô hình AI của riêng Việt Nam .
Từ nay đến năm 2030, Tập đoàn Stavian tập trung phát triển hạ tầng, không chỉ phục vụ riêng doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Sau khi có đủ kinh nghiệm, chúng tôi sẽ tính đến việc xây dựng trung tâm dữ liệu riêng, có hệ thống GPU riêng, rồi phát triển các mô hình và ứng dụng AI.
Tôi nghĩ các nước Đông Nam Á từ trước đến nay đã theo đuổi mô hình trở thành công xưởng thế giới bằng lao động giá rẻ và ưu đãi thuế, đất nhưng chính mô hình ấy khiến nhiều nước mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình.
Muốn thoát ra được thì điều quan trọng phải tăng năng suất lao động và sản xuất Và trong giai đoạn tới, AI, robot AI và tự động hóa sẽ đóng vai trò rất quan trọng.
Nước nào đi càng sớm thì càng tốt. Nhưng muốn làm được AI, trước hết phải có hạ tầng.
Xin cảm ơn ông về cuộc chia sẻ này!