Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống tại Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031, TS Trần Văn Tùng – Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, trong kỷ nguyên số và nền kinh tế tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) đã trở thành động lực then chốt, quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Hình thành nền tảng dữ liệu khoa học, công nghệ
Theo TS Trần Văn Tùng, hiện nay, hệ thống thông tin KHCN&ĐMST thuộc quản lý nhà nước có 289 đơn vị trên cả nước, bao gồm các tổ chức thông tin - thư viện của 14 bộ, 3 cơ quan ngang bộ và 34 tỉnh, thành phố.
Hệ thống thông tin - thư viện Việt Nam đang chứng kiến sự chuyển đổi mạnh mẽ trong tiến trình thực hiện các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và học máy đang định hình lại cách thức tổ chức, quản lý và khai thác tri thức trong nghiên cứu, giảng dạy và đổi mới sáng tạo.
Những chuyển biến này vừa mở ra cơ hội mở rộng không gian tri thức số, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các tổ chức thông tin - thư viện trong việc đổi mới mô hình hoạt động, tăng cường năng lực quản trị dữ liệu và thích ứng với xu thế công nghệ mới.
Hệ thống đã xây dựng được Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN với hơn 63.900 biểu ghi về nhiệm vụ KH&CN các cấp đã và đang triển khai; hơn 446.000 biểu ghi về công bố KH&CN trong nước và 1.453 biểu ghi về tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D). Những dữ liệu này được cập nhật thường xuyên vào cơ sở dữ liệu.
Những thay đổi sâu rộng nói trên cũng gắn liền với định hướng phát triển của Nhà nước trong lĩnh vực thông tin khoa học và công nghệ, thể hiện qua Đề án “Phát triển nguồn tin khoa học và công nghệ quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1285/QĐ-TTg ngày 1/10/2018, gọi tắt là Đề án 1285.
Đến năm 2026, các mục tiêu trọng tâm của Đề án đã cơ bản hoàn thành.
Thứ nhất, về hệ thống hóa, tích hợp và vận hành đồng bộ các nguồn tri thức trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN, trong giai đoạn 2018-2025, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng, đưa vào khai thác và sử dụng các cơ sở dữ liệu về nhiệm vụ KH&CN, công bố khoa học, tổ chức KH&CN, nhân lực KH&CN. Các dữ liệu được liên kết với nhau, bước đầu hình thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN, phục vụ thiết thực cho công tác quản lý, điều hành và cộng đồng khoa học.
Hệ thống cho phép phân quyền truy cập đối với các bộ, ngành, địa phương để cập nhật, đồng bộ dữ liệu về Bộ Khoa học và Công nghệ. Tuy nhiên, một số thành phần của Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN, như Cơ sở dữ liệu trích dẫn khoa học Việt Nam, chưa được triển khai.
Thứ hai, về mở rộng, bổ sung tập trung các nguồn tin KH&CN quốc tế cốt lõi cho các tổ chức KH&CN và cơ sở giáo dục đại học, thông qua Đề án, một số cơ sở dữ liệu quốc tế có uy tín như ScienceDirect, ProQuest, Scopus, Springer Nature, IEEE... đã được bổ sung, mua quyền truy cập, giúp các nhà khoa học trong nước tiếp cận trực tiếp các nguồn tin quốc tế có giá trị học thuật cao.
Tuy nhiên, phạm vi thụ hưởng còn hạn chế, chủ yếu tập trung ở một số đại học và viện nghiên cứu lớn. Kinh phí mua quyền truy cập còn phụ thuộc ngân sách nhà nước, chưa bảo đảm tính ổn định và bền vững.
Thứ ba, về xây dựng, phát triển cơ sở dữ liệu và số hóa tài liệu KH&CN đặc thù tại các bộ, ngành, địa phương, các bộ, ngành, địa phương đều đã triển khai xây dựng các cơ sở dữ liệu KH&CN đặc thù của mình, chủ yếu là các cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của bộ, ngành và cơ sở dữ liệu về nhiệm vụ, thông tin KH&CN của các địa phương.
Mặc dù vậy, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu KH&CN của các bộ, ngành, địa phương còn hạn chế do sự khác biệt giữa các hệ thống nền tảng dữ liệu và không đồng bộ về tiêu chuẩn dữ liệu.
Cần hình thành hệ sinh thái thông tin KHCN&ĐMST
Theo TS Trần Văn Tùng, với kết quả của Đề án 1285, nguồn lực dữ liệu và tri thức KH&CN của Việt Nam khá phong phú nhưng còn nằm ở dạng “các Hub dữ liệu”, rải rác tại các viện nghiên cứu, trường đại học, bộ, ngành và doanh nghiệp. Thực tế này đặt ra một số hạn chế.
Trước hết là vấn đề kết nối và chia sẻ thông tin. Dù bước đầu đã hình thành Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN, dữ liệu KH&CN vẫn còn phân tán, khó chia sẻ. Việc thiếu các quy định pháp lý và cơ chế chia sẻ dữ liệu mở khiến nhiều cơ sở dữ liệu KH&CN được xây dựng tại các bộ, ngành, địa phương và tổ chức nghiên cứu nhưng chưa có cơ chế kết nối, chia sẻ thống nhất.
Bên cạnh đó, việc khai thác dữ liệu còn hạn chế. Dữ liệu về sáng chế, đề tài nghiên cứu, chuyên gia KH&CN chưa được khai thác hiệu quả bằng các công nghệ hiện đại như AI hay phân tích dữ liệu lớn. Dữ liệu chủ yếu phục vụ lưu trữ, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu tạo ra tri thức mới.
Một vấn đề khác là truyền thông tri thức. Kết quả nghiên cứu khoa học chưa được chuyển hóa hiệu quả thành các sản phẩm thông tin phục vụ doanh nghiệp, địa phương, nhà hoạch định chính sách và người dân.
Việc phổ biến tri thức khoa học đến cộng đồng, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông dân chưa thực sự sâu rộng, chưa tạo thành dòng chảy tri thức tự nhiên trong đời sống kinh tế - xã hội.
Do đó, theo TS. Trần Văn Tùng, rất cần xây dựng một hệ sinh thái thông tin KHCN&ĐMST hoàn chỉnh, đủ mạnh, trong đó dữ liệu được kết nối, tri thức được lan tỏa và đổi mới sáng tạo được kích hoạt.
4 nhóm giải pháp phát triển hệ sinh thái thông tin KHCN&ĐMST
Nhân Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam, Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam đề xuất các giải pháp nhằm “Phát triển hệ sinh thái thông tin KHCN&ĐMST; nâng cao hiệu quả phổ biến tri thức, kết nối và khai thác dữ liệu khoa học, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”.
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về KHCN&ĐMST theo hướng “Đúng - Đủ - Sạch - Sống, Thống nhất, Dùng chung”.
Theo đó, cần xây dựng hạ tầng tích hợp, cho phép kết nối dữ liệu từ các viện, trường, doanh nghiệp, các hiệp hội và hội nghề nghiệp.
Đồng thời, áp dụng các chuẩn dữ liệu mở (Open Data), tạo điều kiện để các bên dễ dàng truy cập, tra cứu tài sản trí tuệ, đề tài nghiên cứu, bài báo quốc tế và mạng lưới chuyên gia.
Thứ hai, ứng dụng công nghệ mới trong kết nối và phân tích dữ liệu KH&CN.
AI và Big Data cần được ứng dụng để phân tích xu hướng công nghệ, dự báo các lĩnh vực nghiên cứu tiên phong và kết nối tự động nhu cầu công nghệ của doanh nghiệp với những kết quả nghiên cứu khả thi.
Cùng với đó, cần xây dựng sàn giao dịch tri thức và công nghệ trực tuyến, biến dữ liệu thô thành thông tin thị trường phù hợp, giúp doanh nghiệp dễ dàng tìm kiếm, tiếp cận và thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu.
Thứ ba, đổi mới phương thức phổ biến tri thức khoa học đến cộng đồng.
Bên cạnh các ấn phẩm truyền thống, cần đẩy mạnh phổ biến tri thức KH&CN thông qua các nền tảng số, mạng xã hội, podcast, video ngắn với ngôn ngữ bình dân, dễ hiểu.
Đồng thời, cần đưa tri thức vào sản xuất thông qua việc tổ chức các chương trình kết nối tri thức trực tiếp về nông thôn, vùng sâu, vùng xa; hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp địa phương ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào đời sống.
Thứ tư, hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế chia sẻ dữ liệu.
Cần ban hành chính sách dữ liệu mở, quy định rõ quyền truy cập và nghĩa vụ chia sẻ dữ liệu KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước.
Cùng với đó là bảo vệ sở hữu trí tuệ và an toàn thông tin, tạo môi trường an toàn để các nhà khoa học, doanh nghiệp yên tâm chia sẻ dữ liệu mà không lo ngại rủi ro vi phạm bản quyền.
Phát huy vai trò của các hội xã hội - nghề nghiệp
Với chức năng và nhiệm vụ của mình, Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam sẽ đồng hành cùng Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, các cơ quan quản lý, cộng đồng khoa học, doanh nghiệp và các hội xã hội - nghề nghiệp trong việc thực hiện hiệu quả các chủ trương lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 52-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Theo đó, Hội hướng tới góp phần phát triển hệ sinh thái thông tin khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đưa tri thức trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước thông qua các hoạt động thực tiễn.
Một trong những nhiệm vụ là kết nối và chia sẻ dữ liệu KH&CN, tạo diễn đàn học thuật, kết nối dữ liệu nghiên cứu, kết nối chuyên gia trong và ngoài nước, nhà khoa học với doanh nghiệp, qua đó hình thành mạng lưới tri thức quốc gia.
Hội cũng thúc đẩy phổ biến, lan tỏa thông tin và tri thức KH&CN thông qua việc tổ chức các hội nghị, hội thảo KH&CN, các diễn đàn KH&CN; xuất bản các tạp chí KH&CN, bản tin điện tử về KH&CN; xây dựng các thư viện số chuyên ngành, cổng tri thức mở; tổ chức và triển khai các khóa học trực tuyến đại chúng mở.
Phản biện và tư vấn chính sách cũng là một trong những chức năng quan trọng của các hội xã hội - nghề nghiệp. Thông qua hoạt động này, các hội có thể đề xuất cơ chế chia sẻ dữ liệu, góp ý chính sách truy cập mở, hoàn thiện hành lang pháp lý, tư vấn tiêu chuẩn kỹ thuật, tư vấn chiến lược phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hoạt động thông tin KH&CN.
Bên cạnh đó, các hội xã hội - nghề nghiệp có thể tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho hội viên và cộng đồng; tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ; bồi dưỡng kiến thức để cấp chứng chỉ nghề nghiệp; bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng sử dụng và áp dụng AI, quản trị dữ liệu, thư viện số và khoa học mở.
Hợp tác quốc tế cũng cần được thúc đẩy nhằm tiếp cận các chuẩn quốc tế, chia sẻ dữ liệu, trao đổi chuyên gia, học hỏi mô hình mới và thu hút các dự án quốc tế.
Theo TS Trần Văn Tùng, phát triển hệ sinh thái thông tin KHCN&ĐMST không chỉ là bài toán kỹ thuật hay hạ tầng công nghệ thông tin, hỗ trợ và giúp đỡ các hội viên của Hội, mà còn là một chiến lược nâng cao trí tuệ quốc gia.
Khi dữ liệu được kết nối thông suốt và tri thức được phổ biến rộng rãi, Việt Nam sẽ kiến tạo được môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo phát triển, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.