Mr Pips mắc bệnh tâm thần hưng cảm thật hay “chiêu trò” giảm án hình sự?

Các luật sư bào chữa đề nghị đưa Phó Đức Nam (Mr Pips) đi giám định tâm thần. Tài liệu cho thấy Nam từng điều trị nội trú với chẩn đoán giai đoạn hưng cảm.

Diễn biến gây chú ý tại phiên xét xử Phó Đức Nam (Mr Pips) và 187 đồng phạm khi các luật sư bào chữa cho Mr Pips có đơn kiến nghị gửi HĐXX đề nghị trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với thân chủ. Trước đó, kết luận điều tra và cáo trạng thể hiện, người thân Mr Pips bị chiếm đoạt hơn 2 tỷ đồng khi tìm cách chạy "kim bài miễn tội" cho con.

00000.jpg
Bị cáo Phó Đức Nam tại phiên tòa. Ảnh: Công lý

Trường hợp nào bắt buộc phải trưng cầu giám định tâm thần bị cáo?

Trao đổi với PV Tri thức và Cuộc sống về diễn biến trên, TS.LS Đặng Văn Cường – Giảng viên Khoa Luật và Lý luận chính trị, Trường Đại học Thủy lợi nhìn nhận, việc luật sư đưa ra kiến nghị trưng cầu giám định pháp y tâm thần nếu nhận thấy có căn cứ nghi ngờ về tình trạng tâm thần của bị cáo là một hoạt động tố tụng bình thường, thuộc phạm vi thực hiện quyền bào chữa, không nên mặc nhiên suy diễn rằng đó là hành vi né tránh trách nhiệm hình sự.

Theo thông tin báo chí phản ánh ngày 27/10/2026, các luật sư bào chữa cho Phó Đức Nam cho biết đã gửi đơn kiến nghị Tòa án trưng cầu giám định pháp y tâm thần, kèm theo các tài liệu về quá trình khám, điều trị mà họ cho rằng có liên quan đến tình trạng sức khỏe của bị cáo. Đây là những thông tin cần được cơ quan tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá trên cơ sở hồ sơ và quy định pháp luật.

Luật sư Cường cho rằng, cần tiếp cận vấn đề này một cách khách quan, thận trọng. Không nên vội vàng kết luận kiến nghị của người bào chữa là đúng hoặc không có căn cứ khi chưa có kết quả xem xét chính thức của cơ quan có thẩm quyền. Quyền kiến nghị thuộc về luật sư; việc có chấp nhận kiến nghị hay không phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ, yêu cầu làm rõ sự thật khách quan và quy định pháp luật.

Nói về trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với bị can, bị cáo, luật sư Cường cho biết, điểm mấu chốt nằm ở Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội và cần xác định tình trạng tâm thần của người đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định. Đây không đơn thuần là quyền tùy nghi của cơ quan tiến hành tố tụng nếu căn cứ pháp luật về trường hợp bắt buộc giám định đã xuất hiện.

Theo Điều 205 Bộ luật Tố tụng hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định trong trường hợp bắt buộc hoặc khi xét thấy cần thiết. Việc trưng cầu phải xác định rõ đối tượng, nội dung cần giám định và những tài liệu liên quan để cơ quan chuyên môn thực hiện.

Trong thực tiễn, căn cứ để đặt ra nghi vấn có thể xuất phát từ hồ sơ bệnh án, tài liệu điều trị, kết quả khám chuyên khoa, biểu hiện của người bị buộc tội trong quá trình làm việc, lời khai của người thân hoặc những thông tin khác có liên quan. Những tài liệu này cần được đánh giá tổng thể, không nên chỉ dựa vào một biểu hiện đơn lẻ hoặc suy đoán chủ quan.

Cũng cần phân biệt giữa việc một người có tiền sử bệnh lý tâm thần với việc người đó bị bệnh làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi tại thời điểm thực hiện hành vi bị xem xét. Hai vấn đề này có liên quan nhưng không đồng nhất.

Luật sư Cường nhấn mạnh rằng không thể lấy lý do bị cáo có lúc giao tiếp bình thường, trình bày mạch lạc hoặc có biểu hiện tỉnh táo để đương nhiên loại trừ khả năng mắc bệnh tâm thần. Ngược lại, việc từng khám, điều trị tâm thần hoặc có hồ sơ bệnh án cũng không tự động chứng minh người đó mất năng lực trách nhiệm hình sự. Đó là vấn đề chuyên môn cần được đánh giá dựa trên kết luận giám định và các chứng cứ liên quan.

Bị cáo mắc tâm thần, trách nhiệm hình sự thế nào?

Luật sư Cường khi nói về việc bị cáo có mắc bệnh tâm thần có ảnh hưởng như thế nào đến trách nhiệm hình sự và việc giải quyết vụ án cho biết, vấn đề này được quy định trực tiếp tại Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung. Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Quy định này cho thấy căn cứ pháp lý không chỉ nằm ở việc có mắc bệnh hay không, mà còn phải xem xét mức độ ảnh hưởng của bệnh đối với khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, kết luận giám định cần làm rõ tình trạng tâm thần của bị cáo ở những thời điểm có ý nghĩa đối với vụ án, đặc biệt là thời điểm thực hiện hành vi bị xem xét. Tình trạng sức khỏe tâm thần ở thời điểm giám định, thời điểm điều tra hoặc thời điểm xét xử có thể cung cấp thông tin quan trọng, nhưng không phải lúc nào cũng đồng nhất với tình trạng của người đó trong quá khứ.

Nếu người thực hiện hành vi đáp ứng điều kiện tại Điều 21 Bộ luật Hình sự thì vấn đề đặt ra là loại trừ trách nhiệm hình sự. Nếu người đó thực hiện hành vi khi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng sau đó mắc bệnh đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì việc xử lý phải được xem xét theo các quy định tương ứng về chữa bệnh bắt buộc và thủ tục tố tụng. Không thể đánh đồng hai trường hợp này.

Trong trường hợp người bị buộc tội có bệnh lý nhưng không mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi đến mức thuộc trường hợp quy định tại Điều 21, thì việc mắc bệnh không đương nhiên loại trừ trách nhiệm hình sự. Tùy thuộc tính chất bệnh lý, mức độ ảnh hưởng và các chứng cứ cụ thể, vấn đề này có thể được xem xét theo những quy định pháp luật có liên quan.

Đề cập đến ý kiến cho rằng việc trưng cầu giám định tâm thần có thể ảnh hưởng đến giá trị lời khai, bản tự khai và các tài liệu do bị cáo ký trong quá trình điều tra, luật sư Cường cho rằng đây là vấn đề pháp lý quan trọng cần được nhìn nhận thận trọng.

Theo ông, trong quá trình giải quyết vụ án, lời khai, bản tự khai, biên bản hỏi cung và các tài liệu khác có thể là nguồn chứng cứ để xác định diễn biến hành vi, vai trò của từng bị cáo, mối quan hệ giữa các đối tượng và những tình tiết khác của vụ án. Tuy nhiên, để được sử dụng làm chứng cứ, các tài liệu này phải đáp ứng những điều kiện quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự, trong đó có tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp theo Điều 86, Điều 87 và Điều 108.

Nếu kết quả giám định cho thấy tại thời điểm khai báo, bị cáo bị ảnh hưởng nghiêm trọng về khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, cơ quan tiến hành tố tụng cần đánh giá kỹ khả năng hiểu câu hỏi, khả năng trình bày thông tin, tính tự nguyện và độ tin cậy của lời khai. Đồng thời, phải kiểm tra điều kiện lấy lời khai, hỏi cung, việc tuân thủ thủ tục tố tụng và sự phù hợp giữa lời khai với các chứng cứ độc lập khác.

Tuy nhiên, không thể mặc nhiên kết luận tất cả lời khai hoặc tài liệu do bị cáo ký đều vô hiệu chỉ vì người đó có tiền sử bệnh tâm thần. Giá trị của từng tài liệu phải được đánh giá trên cơ sở điều kiện hình thành, tình trạng thực tế của người khai tại thời điểm lấy lời khai, quy định pháp luật và những chứng cứ khác trong hồ sơ.

Nếu phát hiện tài liệu được thu thập không đúng trình tự, thủ tục luật định hoặc không bảo đảm điều kiện để sử dụng làm chứng cứ thì cơ quan tiến hành tố tụng phải xử lý theo quy định. Việc giám định trong trường hợp này không chỉ liên quan đến trách nhiệm hình sự của bị cáo mà còn có thể ảnh hưởng đến quá trình kiểm tra, đánh giá chứng cứ và yêu cầu giải quyết vụ án khách quan, toàn diện.

Theo luật sư Cường, các luật sư cần trình bày kiến nghị trên cơ sở tài liệu, chứng cứ và căn cứ pháp luật rõ ràng. Đối với yêu cầu giám định pháp y tâm thần, nếu có hồ sơ khám, điều trị, giấy ra viện, đơn thuốc hoặc tài liệu y khoa liên quan thì cần cung cấp đầy đủ để cơ quan tiến hành tố tụng có cơ sở đánh giá. Đồng thời, cần nêu rõ vấn đề chuyên môn cần làm sáng tỏ, đặc biệt là tình trạng tâm thần của bị cáo tại thời điểm thực hiện hành vi bị cáo buộc.

Cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét kiến nghị một cách khách quan, không định kiến với người bào chữa và cũng không mặc nhiên chấp nhận mọi yêu cầu chỉ vì đó là quyền của luật sư. Nếu thuộc trường hợp bắt buộc trưng cầu giám định theo Điều 206 Bộ luật Tố tụng hình sự thì phải thực hiện theo quy định. Nếu không chấp nhận một đề nghị thuộc trường hợp phải xem xét theo thủ tục luật định, cơ quan có thẩm quyền cần thực hiện nghĩa vụ trả lời, nêu rõ căn cứ và bảo đảm quyền tố tụng của người đề nghị.

Bên cạnh đó, cần tôn trọng tính độc lập chuyên môn của người giám định, bảo đảm hồ sơ được cung cấp đầy đủ, nội dung trưng cầu cụ thể và kết luận được đánh giá cùng các chứng cứ khác. Không nên để dư luận xã hội hoặc áp lực từ tính chất nghiêm trọng của vụ án chi phối việc đánh giá chuyên môn.

“Tôi cũng cho rằng các bị cáo và người tham gia tố tụng cần nhận thức rằng mọi lời khai, yêu cầu và kiến nghị đều có thể được kiểm tra, đối chiếu với chứng cứ. Những yêu cầu không có căn cứ có thể không được chấp nhận, nhưng không nên vì thế mà quy kết động cơ của người bào chữa hoặc mặc nhiên xem việc thực hiện quyền tố tụng là biểu hiện thiếu thành khẩn. Thái độ khai báo, ý thức hợp tác và những tình tiết liên quan đến trách nhiệm hình sự phải được đánh giá theo đúng quy định pháp luật, không thể thay thế việc chứng minh tội phạm bằng nhận xét cảm tính”, luật sư Cường nêu ý kiến.

Diễn biến gây chú ý tại phiên xét xử Phó Đức Nam (Mr Pips) và 187 đồng phạm khi các luật sư bào chữa cho Mr Pips có đơn kiến nghị gửi HĐXX đề nghị trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với thân chủ. Đơn kiến nghị cùng các tài liệu, hồ sơ y khoa liên quan đã được gửi đến tòa từ 22/10.

Trong vụ án, Phó Đức Nam bị cáo buộc cầm đầu, chịu trách nhiệm với 920 vụ lừa đảo với tổng số tiền 1.568 tỷ đồng.

Trong đơn kiến nghị, luật sư cho biết qua làm việc với Mr Pips, gia đình và nghiên cứu hồ sơ bệnh án, tài liệu y khoa, các văn bản của trại tạm giam, luật sư nhận thấy bị cáo có tiền sử điều trị bệnh lý tâm thần từ nhiều năm trước. Tài liệu viện dẫn của luật sư có giấy chứng nhận ngày 10/4/2014 của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 thể hiện Nam đang điều trị nội trú từ ngày 6/4/2014, với chẩn đoán giai đoạn hưng cảm. Giấy ra viện ghi nhận thời gian điều trị từ ngày 6 đến 18/4/2014.

Trong đơn, các luật sư cũng đề cập đến tình trạng sức khỏe của Phó Đức Nam trong thời gian bị tạm giam. Theo đó, khi Nam vào trại ngày 4/11/2024 – 23/2/2025, bộ phận y tế đã theo dõi, cấp phát thuốc theo đơn của Bệnh viện Tâm thần TP HCM. Từ ngày 24/2/2025, Nam được bộ phận y tế trại khám, đề xuất chuyển đến chuyên khoa tâm thần của Bệnh viện Bạch Mai để khám, chữa bệnh. Sau đó, Nam trở về trại điều trị theo đơn và được tái khám định kỳ.

Từ những tài liệu trên, luật sư cho rằng có cơ sở để đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng giám định pháp y tâm thần đối với Phó Đức Nam.

Đáng chú ý, trước đó, kết luận điều tra cũng như cáo trạng thể hiện, sau khi Mr Pips bị khởi tố, cha của Mr Pips từng bị lừa gần 2,6 tỷ khi 'tìm cửa' giám định tâm thần cho con.

>>> Mời độc giả xem thêm video Khởi tố Huấn Hoa Hồng: