Madame Bình, Anh hùng Lao động, biểu tượng ngoại giao Việt Nam

Bà Nguyễn Thị Bình vừa được phong Anh hùng Lao động vì đã có công lao to lớn trong lĩnh vực đối ngoại và sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.

Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vừa đón nhận danh hiệu Anh hùng lao động. Danh hiệu này nhằm ghi nhận những công lao to lớn của bà trong ngoại giao, đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

nguyen-thi-binh-c.jpg
Tổng Bí thư Tô Lâm trao danh hiệu Anh hùng Lao động tặng nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình. Ảnh: Như Ý.

Anh hùng Lao động, biểu tượng ngoại giao Việt Nam

Lễ đón nhận danh hiệu diễn ra trong khuôn khổ lễ kỷ niệm 80 năm thành lập ngành ngoại giao Việt Nam (28.8.1945 - 28.8.2025) và đón nhận danh hiệu Huân chương Lao động hạng Nhất.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, bà Nguyễn Thị Bình nhắc lại dấu ấn lịch sử, cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Mỹ tại Hội nghị Paris, nhằm chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Theo bà, đây là một sự kiện đặc biệt quan trọng trong chặng đường 80 năm của ngành ngoại giao.

nguyen-thi-binh-a.png
Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris về Việt Nam, ngày 27/1/1973, tại Trung tâm hội nghị quốc tế ở thủ đô Paris (Pháp). Ảnh: Văn Lượng/TTXVN.

Bà cho biết, trong đàm phán bốn bên, phía Việt Nam có hai đoàn tham dự. Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Bộ trưởng Xuân Thủy và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ dẫn dắt; đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do chính bà làm Trưởng đoàn.

“Hai đoàn đã phối hợp chặt chẽ, cùng nhau vượt qua muôn vàn khó khăn, kiên trì đàm phán trong gần 5 năm để hoàn thành trọng trách lịch sử”, bà nói.

Nguyên Phó Chủ tịch nước nhấn mạnh, việc ký kết Hiệp định Paris năm 1973 là một thắng lợi mang tầm vóc lịch sử của dân tộc, mở ra con đường giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đồng thời trở thành cột mốc quan trọng trong lịch sử ngoại giao Việt Nam.

“Ngày nay, chúng ta có hòa bình, độc lập, thống nhất, với đường lối của Đảng hội nhập quốc tế sâu rộng và mục tiêu là xây dựng Việt Nam trở thành một nước phát triển hùng cường, thịnh vượng, ngoại giao trở thành mặt trận đi đầu.

Tôi tin rằng, với truyền thống 80 năm và với những kinh nghiệm của những bài học lịch sử quý báu, ngành ngoại giao sẽ phát triển mạnh mẽ, đáp ứng yêu cầu của đất nước, đồng thời sẽ xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Xin chúc ngành ngoại giao tiếp tục phát triển với nhiều thành tích", bà chia sẻ.

Dấu ấn Madam Bình trong Hội nghị Paris

Bà Nguyễn Thị Bình, tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa, sinh ngày 26-5-1927, quê gốc tại tỉnh Quảng Nam (cũ). Năm 1961, bà được Ban Thống nhất cử sang tham gia hoạt động ngoại giao cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.

Trong thời gian diễn ra các vòng đàm phán của Hội nghị bốn bên về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Paris (Pháp), bà đảm nhiệm cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

nguyen-thi-binh-b.png
Hình ảnh bà Nguyễn Thị Bình thông minh, sắc sảo mà hòa nhã khi tiếp xúc với truyền thông quốc tế trong quá trình đàm phán Hiệp định Paris. Ảnh: Tư liệu.

Ngày 4/11/1968, ngay trong lần xuất hiện đầu tiên ở Paris, bà đã gây tiếng vang quốc tế bằng bài phát biểu giới thiệu giải pháp 5 điểm của Mặt trận: “Một là, mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam phấn đấu thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình và thống nhất đất nước. Hai là, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh và rút quân khỏi Việt Nam. Ba là, công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam phải do nhân dân miền Nam tự giải quyết. Bốn là, việc thống nhất Việt Nam là quyền của nhân dân Việt Nam. Năm là, Việt Nam thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình và trung lập".

Bài phát biểu mạnh mẽ và dứt khoát lập tức tạo dấu ấn lớn trong dư luận quốc tế. Từ đó, bà được báo chí phương Tây gọi bằng tên trìu mến “Madam Bình”, trở thành biểu tượng ngoại giao mới của phong trào chống chiến tranh và đấu tranh cho hòa bình ở Việt Nam.

Không chỉ trên bàn đàm phán, những câu trả lời nhanh nhạy, thông minh của bà trước báo chí cũng khiến đối phương nể trọng. Khi một nhà báo nước ngoài hỏi bà có phải đảng viên Đảng Cộng sản hay không, bà đã khéo léo đáp: “Tôi thuộc Đảng yêu nước". Câu trả lời vừa cứng rắn, vừa tinh tế ấy cho thấy bản lĩnh của một nhà ngoại giao kiên định.

Trong suốt gần 5 năm đàm phán (1968–1973), bà Nguyễn Thị Bình đã nhiều lần đối diện với sức ép từ Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Trước những câu hỏi thách thức của báo giới quốc tế, bà luôn trả lời thẳng thắn.

Khi được hỏi về sự hiện diện của quân đội miền Bắc tại miền Nam, bà khẳng định "Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”.

Trả lời chất vấn về “vùng giải phóng”, bà đáp, nơi nào Mỹ ném bom thì nơi đó chính là vùng giải phóng của Việt Nam.

Những phát biểu cương nghị và lối lập luận chặt chẽ của bà khiến nhiều nhà báo, nhiều chính khách phương Tây phải thán phục, đồng thời góp phần củng cố chính nghĩa của Việt Nam trên trường quốc tế.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao cam go, lâu dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, kéo dài gần 5 năm ròng rã với hàng trăm phiên họp.

Hình ảnh nhà ngoại giao Nguyễn Thị Bình với những lời lẽ đanh thép đầy thuyết phục mà vô cùng mềm dẻo, tinh tế, nhạy bén thể hiện trong quá trình đàm phán đã khiến cả thế giới ngưỡng mộ và khâm phục.

Dấu ấn ngoại giao xuất sắc của bà Nguyễn Thị Bình

Ngoài vai trò trong Hiệp định Paris, bà Nguyễn Thị Bình còn đảm trách nhiều vai trò quan trọng sau chiến tranh. Sau 1975, bà trở thành Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo (1976–1987), Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Trung ương, Trưởng ban Đối ngoại Quốc hội, và hai nhiệm kỳ Phó Chủ tịch nước (1992–2002) – là nữ thứ hai trong lịch sử Việt Nam được giao giữ chức Phó Chủ tịch nước.

nguyen-thi-binh-1.jpg
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải trao kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp Quốc hội" tặng nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình. Ảnh: Quốc hội.

Trong quá trình hoạt động, bà dẫn dắt các hoạt động đối ngoại nhân dân, xây dựng mạng lưới quan hệ quốc tế với hơn 40 quốc gia và các tổ chức tiến bộ toàn cầu.

Trên cương vị Bộ trưởng Ngoại giao và Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ Cách mạng lâm thời, đại diện cho nhân dân miền Nam chiến đấu, bà Nguyễn Thị Bình rất tích cực vận động chính giới, giới trí thức, báo chí Pháp và phương Tây ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam.

Bà được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Đại đoàn kết, cùng Huân chương Tự do hạng Nhất của nước Lào.

Với tầm vóc ngoại giao, cách ứng xử khéo léo và lòng kiên trì, bà đã góp phần đưa Việt Nam đến với cộng đồng quốc tế, đồng thời khắc ghi hình ảnh một con người “hồng, chuyên”, vừa sắc sảo trong chính trị, vừa mềm mại trong giao tiếp ngoại giao.

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, bà Nguyễn Thị Bình đã được nhận kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Quốc hội.

Gửi lời chúc mừng tốt đẹp nhất tới nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải nêu rõ danh hiệu Anh hùng Lao động là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước với những đóng góp quan trọng của bà trong lĩnh vực đối ngoại, cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Ông Nguyễn Đức Hải cũng nêu rõ trong suốt quá trình đảm nhận nhiều cương vị công tác, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cũng tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Kính chúc nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình dồi dào sức khỏe, trường thọ, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải mong muốn, với những kinh nghiệm của mình, nguyên Phó Chủ tịch nước sẽ tiếp tục theo dõi, chia sẻ ý kiến quý báu nhằm đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

GS.VS Trần Đại Nghĩa, huyền thoại "vua vũ khí" và trái tim trượng nghĩa

Thiếu tướng, Giáo sư Trần Đại Nghĩa, một nhà khoa học tài năng đã hiến trọn đời cho sự nghiệp kháng chiến và nền khoa học kỹ thuật Việt Nam.

Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 là dịp để tưởng nhớ những người đã cống hiến trí tuệ và cuộc đời cho độc lập dân tộc. Trong đó, Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam là một biểu tượng đặc biệt. Từ cậu học trò nghèo ở Vĩnh Long, ông đã vươn lên làm chủ tri thức quân sự hiện đại, mang về phục vụ kháng chiến. Cuộc đời và sự nghiệp của ông là minh chứng rõ rệt cho lòng yêu nước, trí tuệ và sự dấn thân vì Tổ quốc.

tran-dai-nghia.jpg
Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Ảnh tư liệu.

"Mưa Đỏ”, bản tráng ca bi hùng của nhà văn Chu Lai

Tác phẩm của nhà văn Chu Lai, đặc biệt với Mưa Đỏ vừa khốc liệt, vừa nhân văn đã tạo nên dấu ấn đặc biệt của người lính cầm bút.

Đúng dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, bộ phim Mưa Đỏ do Hãng phim Điện ảnh Quân đội Nhân dân sản xuất, đạo diễn Đặng Thái Huyền thực hiện đã chính thức ra mắt, gây tiếng vang lớn. Phim tái hiện lại 81 ngày đêm máu lửa Thành cổ Quảng Trị (1972) – trận đánh được coi là “Điện Biên Phủ trong lòng thành phố”, nơi hàng vạn chiến sĩ đã hy sinh để giữ từng tấc đất.

Ngay từ buổi công chiếu, Mưa Đỏ đã tạo hiệu ứng truyền thông mạnh mẽ. Khán phòng kín chỗ, nhiều khán giả xúc động rơi nước mắt trước ký ức chiến tranh.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật, cánh chim lạ của Trường Sơn huyền thoại

Nhà thơ Phạm Tiến Duật, gắn bó máu thịt với Trường Sơn, để lại những vần thơ vừa hào hùng vừa lãng mạn của một thế hệ trong kháng chiến.

Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 là dịp để nhớ lại những trang sử vàng, những thế hệ anh hùng đã ngã xuống và cả những văn nghệ sĩ đã cầm bút song hành cùng cuộc chiến. Trong số ấy, nhà thơ Phạm Tiến Duật là một trong những gương mặt tiêu biểu. Thơ ông vừa mang âm hưởng bản hùng ca, vừa ngân vang như khúc tình ca của một thời đại.

pham-tien-duat.jpg
Nhà thơ Phạm Tiến Duật thời trẻ, Ảnh tư liệu.