Giáo sư Trần Văn Giàu (1911–2010) hội tụ đầy đủ phẩm cách của một chiến sĩ cộng sản dấn thân, nhà giáo tận tâm và học giả lớn của nền sử học hiện đại Việt Nam, người đã cống hiến trọn cuộc đời cho cách mạng, giáo dục và nghiên cứu lịch sử, để lại dấu ấn sâu đậm không chỉ qua công trình mà còn qua lời nói chân thành và thấm đẫm nhân cách.

“Độc lập hay là chết": Trần Văn Giàu và khoảnh khắc lịch sử ở Sài Gòn ngày 2//.1945”
Ngày 2/9/1945, cùng lúc hàng chục vạn nhân dân Thủ đô Hà Nội tập trung tại Quảng trường Ba Đình để trực tiếp nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, thì ở nhiều miền đất nước, đồng bào náo nức chờ đợi thời khắc lịch sử ấy qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam.
Theo thông báo của Ban Tổ chức Ngày Độc lập do ông Nguyễn Hữu Đang làm Trưởng ban, buổi lễ tại Hà Nội sẽ được truyền thanh trực tiếp trên làn sóng 32m. Tại Sài Gòn, hệ thống loa phóng thanh được dựng dọc theo đường Cộng Hòa (nay là đường Lê Duẩn) và quanh quảng trường Nhà thờ Đức Bà. Hàng triệu người dân Sài Gòn đổ về, ngóng chờ khoảnh khắc linh thiêng để được nghe lời tuyên cáo độc lập từ Hà Nội vọng vào.
Thế nhưng, đến 14 giờ 30, đã hơn nửa tiếng so với giờ dự kiến tín hiệu vẫn chưa được truyền tới. Đám đông bắt đầu xôn xao, thậm chí có người nghi ngờ có bàn tay phá hoại. Sau này mới rõ nguyên nhân chỉ là do máy phát của ta công suất yếu, thiết bị thu đã cũ và thời tiết chiều hôm đó xấu, khiến buổi tường thuật không thể lên sóng.

Trong tình thế căng thẳng ấy, Ban tổ chức đã đề nghị Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ Trần Văn Giàu bước lên lễ đài để trấn an quần chúng. Sau vài phút suy nghĩ, ông ghi nhanh mấy ý chính rồi ứng khẩu một bài diễn văn đanh thép, khẳng định tinh thần trung thành tuyệt đối của nhân dân Nam Bộ đối với Chính phủ Trung ương do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, quyết tâm bảo vệ nền độc lập non trẻ của dân tộc. Trước lễ đài khi ấy còn giăng biểu ngữ tiếng Anh: “Independence or Death” – “Độc lập hay là chết”.
Do chưa có thiết bị ghi âm, bài phát biểu của ông được các ký giả ghi lại bằng tốc ký và sau đó đăng tải trên báo chí Sài Gòn, như tờ Sài Gòn số 17.022 ra ngày 3/9/1945, hay trong hồi ký Saigon Septembre 45 của nhà báo Trần Tấn Quốc.
“Ngày độc lập bắt đầu từ nay. Tiến lên vì độc lập, vì tự do, tiến tới mãi, không một thành lũy nào ngăn nổi ý chí của muôn dân trên đường giải phóng”. Bài diễn văn khép lại bằng những lời đanh thép, vừa như một lời thề, vừa như một tuyên ngôn khẳng định nền độc lập non trẻ. Chính khoảnh khắc ấy đã trở thành dấu ấn lịch sử, ghi lại một trong những phút giây hào hùng đầu tiên khi Nam Bộ hòa nhịp cùng cả nước trong Ngày Độc lập.
Từ "Giáo sư Đỏ" đến nhà sử học hàng đầu Việt Nam
GS Trần Văn Giàu sinh ngày 11/9/1911 tại xã An Lục Long, huyện Châu Thành (tỉnh Long An) trong một gia đình điền chủ khá giả. Từ nhỏ ông sớm được truyền cảm hứng yêu nước. Sau khi học trung học tại Sài Gòn, ông sang Pháp học tại Đại học Toulouse, rồi gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và tích cực tham gia phong trào của du học sinh yêu nước tại Toulouse.
Trở về nước, ông vừa dạy học vừa hoạt động trong Xứ ủy Nam Kỳ, tổ chức báo Cờ đỏ và sách Cộng sản Tùng thư, đồng thời trở thành diễn giả đấu tranh với eloquence và kiến thức sâu rộng. Trong tù ông vẫn là “Giáo sư Đỏ”, bí mật soạn giáo trình và đào tạo cán bộ trong nhà giam.
Cuối năm 1943, ông được bầu làm Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, rồi trở thành Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ (Lâm ủy) tổ chức khởi nghĩa, và ngay sau đó được giao nhiều cương vị lãnh đạo cao, trong đó có Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ.
Trí tuệ lớn và nhân cách sáng của phương Nam
Sau Hiệp định Genève 1954, GS Trần Văn Giàu được giao trách nhiệm tiếp quản và xây dựng đại học mới tại Hà Nội. Ông là Bí thư Đảng ủy đầu tiên và giảng viên sáng lập Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trực tiếp giảng dạy triết học, lịch sử thế giới và Việt Nam. Ông còn là giám đốc Trường Dự bị Đại học ở vùng tự do Thanh–Nghệ–Tĩnh (1951-1954), là nơi đào tạo cán bộ khoa học hàng đầu.

Trọng tâm nghiên cứu của ông là lịch sử chống xâm lăng, giai cấp công nhân và lịch sử tư tưởng. Các tác phẩm tiêu biểu như “Lịch sử chống xâm lăng” (3 tập), “Lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam” (4 tập hơn 1.500 trang), và bộ “Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám” (1973-1993) đã được giới sử học trong nước và quốc tế đánh giá cao.
Nhà sử học David G. Marr từng nhận xét bộ sách là “bộ sử tốt nhất về tư tưởng Việt Nam” xuất bản bằng mọi thứ tiếng. Phong cách Sử học của ông độc đáo: lịch sử được kể như sự nghiệp của quần chúng, sinh động, sâu sắc, vừa có văn phong vừa có chiều sâu triết lý. Ngay khi tuổi đã cao, ông vẫn miệt mài công bố các tác phẩm cuối đời như Hồ Chí Minh, vĩ đại một con người (gần 1.000 trang, 2010).

Không chỉ là người cách mạng, người thầy, GS Trần Văn Giàu là một nhân cách Nam Bộ tiêu biểu: nhân hậu, bao dung, thẳng thắn, dung dị mà nghiêm khắc.
Có lần ông dùng toàn bộ số tiền từ việc bán nhà tương đương 1.000 lượng vàng để lập Quỹ Trần Văn Giàu, trao giải thưởng khuyến khích nghiên cứu lịch sử tư tưởng Nam Bộ và xây dựng trường mẫu giáo mang tên vợ mình, bà Đỗ Thị Đạo, ở quê nhà.
Ông có công đào tạo nhiều thế hệ sử học lớn như Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng...
Ông được nhà nước trao tặng nhiều danh hiệu và huân chương cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Kháng chiến hạng Nhất, Anh hùng Lao động (thời kỳ đổi mới), Nhà giáo Nhân dân (1992), Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng, Giải thưởng Hồ Chí Minh (cho toàn bộ công trình sử học). Khi qua đời ngày 16/12/2010, ông để lại một di sản không chỉ về sử học khoa học mà còn về nhân cách lớn của người trí thức Nam Bộ trung hậu.
Cuộc đời GS Trần Văn Giàu là một bản anh hùng ca của lòng yêu nước, tâm huyết giáo dục và niềm say mê nghiên cứu lịch sử. Ở ông, chúng ta thấy hiện hữu hình ảnh một nhà cách mạng kiên trung, một học giả mẫu mực, và một nhân cách lớn, người đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp dân tộc và đặt nền móng cho nền sử học cách mạng Việt Nam hiện đại.