Nguồn dầu thô Iran đang dần biến mất đúng vào thời điểm nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc bắt đầu phục hồi. Trong nhiều năm, Trung Quốc là khách hàng gần như duy nhất của dầu thô Iran sau khi chính quyền Syria của Tổng thống Bashar al-Assad sụp đổ cuối năm 2024, khiến tuyến xuất khẩu sang Syria bị cắt đứt. Theo dữ liệu thị trường, trong năm 2025, Trung Quốc nhập trung bình khoảng 1,4 triệu thùng dầu Iran mỗi ngày.
Khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát cuối tháng 2/2026, vai trò của dầu Iran đối với Trung Quốc càng trở nên quan trọng hơn. Trong bối cảnh Tehran hạn chế nhiều tàu dầu nước ngoài đi qua eo biển Hormuz nhưng vẫn cho phép tàu chở dầu của mình hoạt động, lượng dầu Iran vào Trung Quốc đã tăng lên khoảng 1,76 triệu thùng/ngày trong tháng 4.
Tuy nhiên, lợi thế này nhanh chóng biến mất sau khi Mỹ áp đặt phong tỏa hải quân đối với Iran từ ngày 13/4. Các tàu đã bốc hàng không thể rời Vịnh Ba Tư, trong khi tàu rỗng cũng không thể tiếp cận để nhận dầu mới.
Sản lượng bốc hàng tại đảo Kharg, cảng xuất khẩu dầu lớn nhất Iran, lao dốc từ khoảng 1,8 triệu thùng/ngày trong tháng 3 xuống chỉ còn 260.000 thùng/ngày vào tháng 5.
Thỏa thuận tạm thời giữa Mỹ và Iran ngày 17/6 giúp hoạt động xuất khẩu được nối lại trong 60 ngày, đưa khối lượng bốc hàng lên khoảng 740.000 thùng/ngày trong tháng 6 và 890.000 thùng/ngày trong tháng 7.
Tuy nhiên, sau khi thời hạn miễn trừ kết thúc vào tháng 8, xuất khẩu lại giảm mạnh xuống khoảng 250.000 thùng/ngày và đến tháng 9 gần như không còn ghi nhận hoạt động bốc hàng mới tại Vịnh Ba Tư.
Điểm đáng chú ý là ngay cả khi không thể xuất khẩu trực tiếp, Iran vẫn duy trì được nguồn cung cho Trung Quốc nhờ lượng dầu tích trữ trên các tàu nổi ngoài khơi.
Giữa tháng 4, Iran có khoảng 160 triệu thùng dầu lưu trữ trên biển, phân bố quanh Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á. Nhờ lượng dầu dự trữ này, Trung Quốc vẫn nhập khoảng 1,37 triệu thùng/ngày trong tháng 5, chỉ thấp hơn khoảng 10% so với trước khủng hoảng.
Song "kho dự trữ nổi" này liên tục giảm. Đến giữa tháng 6 chỉ còn khoảng 106 triệu thùng, sau đó phục hồi lên 128 triệu thùng nhờ giai đoạn nới lỏng tạm thời. Hiện lượng dầu lưu trữ trên biển chỉ còn khoảng 86 triệu thùng, mức thấp nhất kể từ đầu năm 2025.
Trong số này, khoảng 23 triệu thùng vẫn mắc kẹt ngay trong Vịnh Ba Tư và không thể xuất khẩu.
Lượng dầu Iran cập cảng Trung Quốc cũng giảm nhanh, từ khoảng 980.000 thùng/ngày trong tháng 8 xuống chỉ còn 475.000 thùng/ngày trong tháng 9. Sau ngày 26/9, gần như không còn chuyến hàng mới nào cập bến.
Trong khi đó, các kho chứa trên đất liền của Iran đã lấp đầy khoảng 60%, tương đương gần 70 triệu thùng dầu. Điều này buộc Tehran đứng trước lựa chọn phải cắt giảm sản lượng khai thác. Theo ước tính, Iran khó có thể duy trì mức sản lượng trước chiến tranh khoảng 3,2 triệu thùng/ngày, dù khoảng 2,2 triệu thùng/ngày vẫn được tiêu thụ trong nước.
Việc nguồn dầu Iran suy giảm khiến các nhà máy lọc dầu tư nhân tại tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, chịu tác động mạnh nhất. Các doanh nghiệp này chiếm khoảng 20% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc và nhiều năm qua phụ thuộc vào nguồn dầu bị cấm vận từ Iran và Nga nhờ giá rẻ. Hiện họ buộc phải tìm nguồn thay thế từ Saudi Arabia, Brazil, Guyana, Tây Phi và các nước Nam Mỹ.
Giữa tháng 9, khoảng 10 doanh nghiệp lọc dầu tư nhân Trung Quốc đã cử đoàn sang Singapore để tìm kiếm nguồn cung mới.
Tại cảng Thanh Đảo, nơi cung cấp dầu cho 12 nhà máy lọc dầu tư nhân, dầu Iran từng chiếm khoảng 40% tổng lượng nhập khẩu năm 2025. Hiện khu vực này đã tăng mua dầu Tupi và Buzios của Brazil, đồng thời lần đầu tiếp nhận dầu Golden Arrow từ Guyana. Dù vậy, tổng lượng dầu cập cảng vẫn giảm xuống chỉ khoảng 150.000 thùng/ngày, mức thấp kỷ lục trong 3 tháng gần đây.
Tình hình tương tự diễn ra tại cảng Đông Dinh, nơi phục vụ 32 nhà máy lọc dầu tư nhân. Nếu năm ngoái dầu Nga và Iran gần như chiếm toàn bộ nguồn cung thì đến tháng 9, chỉ còn 1 chuyến dầu Iran cập cảng, khiến tổng lượng nhập giảm xuống khoảng 220.000 thùng/ngày.
Nguồn cung khan hiếm cũng khiến giá dầu thay thế tăng mạnh. Chênh lệch giá dầu ESPO của Nga so với dầu Brent đã lên mức kỷ lục khoảng 28 USD/thùng, trong khi dầu Urals cũng cao hơn Brent khoảng 7-8 USD/thùng.
Theo các chuyên gia, áp lực không chỉ dừng ở Trung Quốc. Khi nước này phải tranh mua dầu từ các khu vực khác để thay thế nguồn cung Iran, thị trường dầu toàn cầu sẽ tiếp tục thắt chặt.
Trong khi đó, Iran ngày càng rơi vào thế khó. Các cuộc đàm phán hòa bình vẫn chưa đạt đột phá, dầu thô của nước này tiếp tục bị phong tỏa, còn nguồn thu từ xuất khẩu ngày càng suy giảm.
Theo Oilprice