Hàn Quốc mất 40 năm, Trung Quốc mất 30 năm nhưng Việt Nam chỉ có 5 năm để thực hiện mục tiêu lớn, tạo thay đổi mới cho khoa học và công nghệ

Hàn Quốc mất 40 năm, Trung Quốc mất 30 năm nhưng Việt Nam chỉ có 5 năm để làm điều này.

Hàn Quốc mất 40 năm, Trung Quốc mất 30 năm nhưng Việt Nam chỉ có 5 năm để thực hiện mục tiêu lớn, tạo thay đổi mới cho khoa học và công nghệ - Ảnh 1.

Ảnh minh họa

Theo định hướng phát triển giai đoạn 2026-2030, Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng. Trong đó, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) được xem là một trong những yếu tố then chốt, song cũng là thách thức lớn khi tiềm lực nghiên cứu của Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt ở khu vực doanh nghiệp.

Theo Bộ Công Thương, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các ngành công nghiệp, bao gồm cả công nghiệp hỗ trợ, nhìn chung còn thấp. Không ít doanh nghiệp Việt Nam chưa sẵn sàng hoặc gặp khó khăn trong việc tiếp cận sản xuất thông minh, trong khi tiềm lực nghiên cứu và phát triển còn hạn chế.

Cụ thể, theo số liệu năm 2023, tỷ lệ chi cho R&D của Việt Nam chỉ đạt 0,41% GDP, thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc (4,94%), Trung Quốc (2,58%), Singapore (1,81%), Malaysia (1,01%), Thái Lan (0,94%) và mức trung bình khoảng 2,7% của các nước OECD. Đây cũng là khoảng cách đáng kể so với mục tiêu đưa tỷ lệ chi cho R&D lên 2% GDP vào năm 2030 theo Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Đáng chú ý, năng lực nghiên cứu của Việt Nam hiện chủ yếu tập trung ở khu vực viện, trường, trong khi doanh nghiệp tư nhân chưa đầu tư đáng kể cho R&D, phần lớn chỉ tập trung cải tiến quy trình thay vì nghiên cứu công nghệ mới. Theo Khảo sát doanh nghiệp năm 2023 của Ngân hàng Thế giới, chỉ 5,1% doanh nghiệp Việt Nam có chi cho R&D và 7,5% có hoạt động đổi mới sản phẩm.

Thực trạng này cũng phản ánh qua trình độ công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp trong nước. Nền công nghiệp Việt Nam chưa bắt kịp với sản xuất hiện đại, công nghệ tại nhiều doanh nghiệp chậm đổi mới, phần lớn nhà máy vẫn đang ở giai đoạn tự động hóa từng phần và sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình thế giới từ 2–3 thế hệ.

Chỉ một số ít doanh nghiệp trong nước như THACO, VinFast phát triển sản xuất thông minh với hệ điều hành sản xuất trên nền tảng số hóa, kết nối các dây chuyền tự động trên toàn nhà máy và xuyên suốt chuỗi giá trị. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp vẫn có mức độ tiếp cận thấp hoặc ít quan tâm đến đổi mới công nghệ. Riêng trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, trên 30% doanh nghiệp vẫn sử dụng hoàn toàn thiết bị điều khiển thủ công và chưa đến 10% sử dụng rô-bốt.

Trong bối cảnh đó, GS. Trần Văn Thọ, Giáo sư danh dự Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản, cho rằng Việt Nam cần đẩy mạnh đầu tư cho R&D, đồng thời phát huy vai trò của cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trong nghiên cứu công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Theo GS. Trần Văn Thọ, tỷ lệ chi tiêu cho R&D trên GDP của Việt Nam hiện vẫn ở mức rất thấp, dưới 0,7%. Trong khi đó, Hàn Quốc vào đầu thập niên 1980, khi ở giai đoạn thu nhập trung bình cao tương tự Việt Nam hiện nay, đã dành hơn 1% GDP cho R&D và nâng tỷ lệ này lên 2% vào năm 1990. Tại Trung Quốc, khi ở cùng giai đoạn thu nhập trung bình cao, tỷ lệ R&D/GDP đã vượt 2% vào năm 2012.

“Việt Nam cũng đặt mục tiêu tỷ lệ R&D/GDP lên 2% vào năm 2030. Đó là một kế hoạch cần thiết nhưng là một thách thức lớn khi tỷ lệ ấy hiện nay rất thấp và chỉ còn 5 năm nữa. Để đạt mục tiêu này cần phát huy vai trò của doanh nghiệp tư nhân”, GS. Trần Văn Thọ nhấn mạnh.

Theo ông, hiện doanh nghiệp tư nhân mới chiếm khoảng 44% tổng chi tiêu R&D của Việt Nam. Trong khi đó, tại Hàn Quốc, đến đầu thập niên 1970, Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong đầu tư nghiên cứu, nhưng tỷ trọng này dần chuyển sang khu vực tư nhân. Đến năm 1985, doanh nghiệp tư nhân đã chiếm tới 80% tổng chi tiêu R&D của nước này.

Từ kinh nghiệm đó, GS. Trần Văn Thọ đề xuất Nhà nước cần thúc đẩy các dự án nghiên cứu hỗn hợp với sự tham gia của những doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp tham gia có thể khai thác kết quả nghiên cứu từ những dự án này để tiếp tục phát triển nghiên cứu ứng dụng và hình thành các doanh nghiệp khởi nghiệp mới. Chính phủ cũng có thể thành lập các viện nghiên cứu chuyên biệt, đóng vai trò như những vườn ươm đổi mới sáng tạo, đồng thời xây dựng chính sách ưu đãi thuế nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D.

Cùng quan điểm về yêu cầu tăng cường nguồn lực cho khoa học - công nghệ, tại Triển lãm Quốc tế Công nghiệp Việt Nam 2025 - VIET INDUSTRY 2025, TS. Nguyễn Quân, Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam, cho rằng Việt Nam cần đầu tư rất lớn cho lĩnh vực này, trong đó ngân sách nhà nước cần dành tối thiểu 3% tổng chi ngân sách hằng năm, bên cạnh nguồn vốn huy động từ xã hội.

Theo mục tiêu đến năm 2030, tổng mức đầu tư cho khoa học, công nghệ cần đạt khoảng 2% GDP quốc gia. Tuy nhiên, đây là một thách thức lớn nếu xét đến thời gian mà các nền kinh tế đi trước cần để đạt được mức đầu tư tương tự. “Hàn Quốc mất 40 năm và Trung Quốc mất 30 năm để đạt mức 2% GDP đầu tư cho khoa học công nghệ”, ông Quân chia sẻ.

Như vậy, Việt Nam chỉ còn 5 năm để hướng tới mục tiêu đầu tư cho khoa học, công nghệ tương đương 2% GDP, trong khi Hàn Quốc và Trung Quốc từng mất lần lượt 40 năm và 30 năm để đạt được mức này. Theo TS. Nguyễn Quân, việc hiện thực hóa mục tiêu phụ thuộc rất lớn vào sự tham gia đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp, không chỉ doanh nghiệp nhà nước mà toàn bộ hệ thống doanh nghiệp Việt Nam. Về lâu dài, doanh nghiệp tư nhân sẽ trở thành nguồn đầu tư lớn nhất cho phát triển khoa học và công nghệ.

Ông Quân cho rằng đây không chỉ là bài học từ các nước phương Tây mà còn là kinh nghiệm thực tiễn từ những nền kinh tế Đông Á như Hàn Quốc, Trung Quốc và Đài Loan. Để huy động được nguồn vốn đầu tư lớn từ khu vực doanh nghiệp, hệ thống cơ chế, chính sách hiện hành cần có những thay đổi mang tính đột phá, tạo điều kiện để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.