Từ áo dài, phở, di sản văn hóa đến tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng vươn lên của dân tộc, Việt Nam đang sở hữu những nguồn lực mềm ngày càng có giá trị trong kỷ nguyên hội nhập. Làm thế nào để chuyển hóa những giá trị văn hóa thành thương hiệu quốc gia, biến sức mạnh mềm thành động lực phát triển và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế đang trở thành một yêu cầu chiến lược trong hành trình hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đất nước trong thế kỷ XXI.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Văn hóa được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị và xã hội trong chiến lược phát triển quốc gia. Đây là bước chuyển có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt nhận thức và lý luận.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhận định Việt Nam sở hữu những lợi thế đặc biệt mà không phải quốc gia nào cũng có. Đó là lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, hệ thống di sản văn hóa phong phú, sự đa dạng của 54 dân tộc anh em cùng những giá trị nhân văn được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
“Sở hữu tài nguyên văn hóa không đồng nghĩa với việc tự động tạo ra sức mạnh mềm. Điều quan trọng là khả năng chuyển hóa những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển, thành hình ảnh quốc gia và thành những sản phẩm có sức hấp dẫn đối với công chúng trong nước cũng như quốc tế”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn nói.
Theo Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, tư duy về văn hóa trong giai đoạn hiện nay có sự thay đổi căn bản. Nếu trước đây văn hóa thường được xem là lĩnh vực hỗ trợ cho phát triển kinh tế, thì nay được xác định là một trong những trụ cột của phát triển bền vững.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, những yếu tố như chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh và kinh tế sáng tạo đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc phát triển. Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững không thể chỉ dựa vào nguồn lực vật chất, mà còn phải có nền tảng văn hóa đủ mạnh để định hướng xã hội, tạo dựng bản lĩnh dân tộc và quy tụ con người vào những mục tiêu lớn.
Theo GS.TS Từ Thị Loan, Hiệp hội Phát triển Văn hóa cộng đồng Việt Nam, việc xây dựng thương hiệu quốc gia cần dựa trên những hình ảnh đặc trưng, khác biệt và có sức thuyết phục. Một quốc gia chỉ có thể tạo dựng được uy tín và sức hấp dẫn khi biết khai thác những giá trị văn hóa riêng có để hình thành bản sắc độc đáo trong nhận thức của cộng đồng quốc tế.
Đối với Việt Nam, nền tảng bền vững nhất của thương hiệu quốc gia chính là văn hóa - những câu chuyện phản ánh lịch sử, con người, giá trị và khát vọng của dân tộc. Đó là lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, những giá trị nhân văn được hun đúc qua nhiều thế hệ, kho tàng di sản vật thể và phi vật thể phong phú, hình ảnh con người Việt Nam cần cù, sáng tạo, hiếu khách và giàu lòng nhân ái… đều có thể trở thành những “đại sứ văn hóa” đưa hình ảnh Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế.
“Xây dựng thương hiệu quốc gia từ văn hóa không phải là nhiệm vụ của riêng ngành văn hóa hay du lịch. Đó là trách nhiệm chung của Nhà nước, doanh nghiệp và mỗi công dân. Mỗi hành động đẹp, mỗi sản phẩm chất lượng, mỗi câu chuyện nhân văn được lan tỏa đều góp phần định hình hình ảnh đất nước trong mắt bạn bè quốc tế”, GS.TS Từ Thị Loan khẳng định.
Theo quan điểm của TS. Lê Doãn Hợp, nguyên Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, văn hóa chính là "hồn cốt" của dân tộc và là yếu tố kết nối quá khứ, hiện tại với tương lai. Nếu kinh tế tạo ra của cải vật chất, thì văn hóa tạo nên sức mạnh tinh thần, hình thành nhân cách con người và tạo động lực phát triển xã hội.
TS. Lê Doãn Hợp cho rằng, quốc gia nào kể được câu chuyện hấp dẫn hơn, xây dựng được hình ảnh tích cực hơn và tạo được sự tin cậy lớn hơn trong cộng đồng quốc tế thì có nhiều lợi thế hơn trong hợp tác và phát triển. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Các nền tảng số, mạng xã hội, phim ảnh, âm nhạc và các sản phẩm sáng tạo đang trở thành những kênh truyền tải hiệu quả hình ảnh quốc gia. Khi một bộ phim Việt Nam được yêu thích ở nước ngoài, khi một món ăn Việt xuất hiện trên bản đồ ẩm thực thế giới hay khi một lễ hội truyền thống được quảng bá rộng rãi trên môi trường số, đó không chỉ là thành công của một sản phẩm văn hóa, mà còn là sự gia tăng giá trị cho thương hiệu Việt Nam.
“Việt Nam hiện có lợi thế về dân số trẻ, tỷ lệ sử dụng Internet cao và cộng đồng sáng tạo nội dung năng động. Nếu được hỗ trợ bởi các chính sách phù hợp, lực lượng này có thể trở thành những "đại sứ văn hóa số", góp phần quảng bá hình ảnh đất nước ra thế giới. Đây là cơ hội lớn để Việt Nam gia tăng sức mạnh mềm với chi phí thấp hơn nhiều so với các phương thức truyền thống”, TS Lê Doãn Hợp nêu vấn đề.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn đặc biệt nhấn mạnh việc đưa văn hóa số và công nghiệp văn hóa trở thành trọng tâm trong chiến lược phát triển văn hóa quốc gia. Bởi đây là bước tiến quan trọng bởi trong thời đại số. Văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần mà còn là một ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, công nghiệp văn hóa bao gồm nhiều lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế, thời trang, quảng cáo, xuất bản, trò chơi điện tử, nội dung số và các loại hình sáng tạo khác. Những ngành này vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia và lan tỏa các giá trị văn hóa. Việc phát triển văn hóa số lành mạnh, khuyến khích sáng tạo các sản phẩm văn hóa mới và hỗ trợ các doanh nghiệp sáng tạo cần được xem là một nhiệm vụ trọng tâm.
PGS.TS Đặng Thị Thu Hương, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội) cho rằng, Việt Nam cần có những chính sách mạnh mẽ hơn để phát triển công nghiệp văn hóa trong bối cảnh kinh tế số, cần đầu tư xây dựng hạ tầng công nghệ, hỗ trợ phát triển các lĩnh vực mới như trò chơi điện tử, văn học mạng, âm nhạc trực tuyến, nghệ thuật số và các mô hình sáng tạo dựa trên nền tảng số.