Điều chỉnh khung pháp lý hợp tác giáo dục nước ngoài để mở rộng liên kết và đầu tư

Bộ GDĐT xây dựng dự thảo nghị định mới, tăng cường hậu kiểm, mở rộng hình thức liên kết, đảm bảo quyền lợi học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục quốc tế.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đang lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Nghị định quy định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục.

Dự thảo Nghị định được xây dựng nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 71-NQ/TW và các chủ trương liên quan của Đảng, bảo đảm thống nhất với pháp luật mới. Đồng thời, tạo thuận lợi cho hợp tác, đầu tư quốc tế thông qua việc đơn giản hóa thủ tục, phân cấp, phân quyền và tăng cường hậu kiểm, gắn với bảo đảm chất lượng giáo dục và quyền lợi người học.

anh-4-lop-hoc-vinschool201.jpg
Thu hút nguồn lực quốc tế để phát triển các mô hình giáo dục chất lượng cao là một mục tiêu của dự thảo. Ảnh moet.gov.vn

Dự thảo Nghị định khi ban hành sẽ thay thế Nghị định số 86/2018/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2024/NĐ-CP.

Mở rộng hợp tác, liên kết và đầu tư trong giáo dục

Dự thảo Nghị định mở rộng và hoàn thiện khung pháp lý đối với các hình thức hợp tác, liên kết với nước ngoài ở các cấp học, trình độ đào tạo.

Đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, dự thảo quy định ba hình thức liên kết giáo dục gồm: thực hiện chương trình giáo dục của Việt Nam nhằm đạt mục tiêu cao hơn về chất lượng; thực hiện chương trình giáo dục tích hợp giữa chương trình của Việt Nam và chương trình nước ngoài; thực hiện chương trình giáo dục của nước ngoài.

Trong đó, hoạt động liên kết tại cơ sở giáo dục công lập không được ảnh hưởng đến nhiệm vụ giáo dục được giao, quyền học tập của học sinh và việc thực hiện giáo dục bắt buộc; không được sử dụng hoạt động liên kết để thay thế hoặc hạn chế việc thực hiện chương trình giáo dục bắt buộc.

Đối với chương trình giáo dục tích hợp, dự thảo quy định Sở GDĐT tổ chức thẩm định, phê duyệt trước khi thực hiện. Chương trình đã được một Sở GDĐT phê duyệt có thể được cơ sở giáo dục khác sử dụng mà không phải thẩm định, phê duyệt lại nếu không thay đổi nội dung chương trình.

Dự thảo đề xuất cho phép học sinh là công dân Việt Nam học chương trình giáo dục của nước ngoài ở cấp trung học phổ thông tại các cơ sở giáo dục thuộc đối tượng được phép, không quy định giới hạn tỷ lệ học sinh Việt Nam theo học. Học sinh Việt Nam phải học các môn học bắt buộc theo quy định của pháp luật. Việc tổ chức chương trình phải bảo đảm mục tiêu giáo dục của Việt Nam, quyền, lợi ích hợp pháp của người học và khả năng chuyển tiếp trong hệ thống giáo dục.

Đối với giáo dục đại học, dự thảo quy định ba hình thức liên kết gồm: liên kết đào tạo để cấp văn bằng, chứng chỉ; liên kết thành lập viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm trọng điểm; và phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam.

Đối với giáo dục nghề nghiệp, dự thảo quy định hai hình thức liên kết gồm: liên kết đào tạo để cấp văn bằng, chứng chỉ; liên kết thành lập khoa, trung tâm, đơn vị chuyên môn.

Đối với văn phòng đại diện giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, dự thảo chuyển trọng tâm quản lý sang công khai, thông báo, cập nhật dữ liệu và hậu kiểm, đồng thời xác định rõ phạm vi hoạt động của văn phòng đại diện.

Dự thảo cũng bổ sung khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động hợp tác, đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục. Các thủ tục đầu tư tiếp tục thực hiện theo pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan.

Tăng quyền tự chủ, cắt giảm thủ tục hành chính

Định hướng xuyên suốt của dự thảo là chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, mở rộng quyền tự chủ của cơ sở giáo dục gắn với công khai, trách nhiệm giải trình và quản lý trên cơ sở dữ liệu.

Đối với liên kết đào tạo với nước ngoài, dự thảo mở rộng quyền tự chủ của cơ sở giáo dục trong việc xem xét, quyết định theo quy trình nội bộ; chỉ duy trì cơ chế phê duyệt trước đối với một số trường hợp cần tăng cường kiểm soát chất lượng theo quy định.

Đối với liên kết tổ chức thi, cấp chứng chỉ của nước ngoài, dự thảo chuyển từ cơ chế phê duyệt trước sang cơ chế tự chủ quyết định gắn với công khai, thông báo, cập nhật dữ liệu và hậu kiểm; đồng thời tăng trách nhiệm của các bên về chất lượng, an toàn, bảo mật, phòng, chống gian lận và bảo vệ quyền lợi người dự thi.

Đối với cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài và phân hiệu của cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, dự thảo không quy định lại các điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư, thành lập và cho phép hoạt động đã được điều chỉnh bởi pháp luật về đầu tư và các nghị định chuyên ngành.

Tăng cường công khai, trách nhiệm giải trình và hậu kiểm

Cùng với việc mở rộng quyền tự chủ và giảm thủ tục hành chính, dự thảo Nghị định tăng cường trách nhiệm của cơ sở giáo dục, nhà đầu tư và các bên tham gia hợp tác, liên kết trong việc công khai thông tin, cập nhật dữ liệu, báo cáo và giải trình.

Dự thảo bổ sung cơ chế giám sát, đánh giá mức độ tuân thủ và phân loại rủi ro, làm căn cứ áp dụng mức độ kiểm tra, giám sát phù hợp. Trong đó, ưu tiên giám sát từ xa thông qua dữ liệu, thông tin công khai, báo cáo, phản ánh của người học, nhà giáo, người lao động và kết quả kiểm định chất lượng.

Việc đổi mới phương thức quản lý nhằm tạo môi trường thuận lợi hơn cho hợp tác, đầu tư quốc tế trong giáo dục, đồng thời bảo đảm chất lượng giáo dục, quyền và lợi ích hợp pháp của người học, tính minh bạch và trách nhiệm của các chủ thể tham gia.

Mời độc giả xem video Học sinh cấp 2,3 chất lượng cao Hà Nội phải đạt trình độ tiếng Anh ngang ĐH

Nâng cao chất lượng và tự chủ của trung tâm giáo dục

Dự thảo quy chế mới tăng trách nhiệm, tự chủ, ứng dụng công nghệ, mở rộng hoạt động đào tạo nghề, giáo dục hòa nhập, đáp ứng nhu cầu xã hội.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa đăng tải dự thảo Thông tư ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên trên Cổng thông tin điện tử của Bộ để lấy ý kiến góp ý theo quy định.

Dự thảo được xây dựng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý về tổ chức và hoạt động của các trung tâm; bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các quy định pháp luật mới; nâng cao chất lượng thực hiện các chương trình giáo dục thường xuyên, đào tạo nghề và đáp ứng nhu cầu học tập của người dân.

Địa phương thông tin miễn phí SGK - Nguồn cơn của việc thiếu sách?

Hơn 3,9 triệu cuốn sách giáo khoa (SGK) được các địa phương báo cáo còn thiếu sau khai giảng đang đặt ra nhiều câu hỏi về cách xác định nhu cầu và trách nhiệm cung ứng.

Một nguyên nhân cần được nhìn thẳng là nhiều địa phương công bố miễn phí hoặc cho học sinh mượn sách ngay trong năm học 2026-2027 dù chưa thực hiện đúng trình tự tại khoản 3 Điều 33 Nghị định số 271/2026/NĐ-CP: kế hoạch dự báo nhu cầu phải được phê duyệt trước ngày 30/10 năm trước để làm căn cứ lập dự toán và sách phải nhập kho thư viện chậm nhất ngày 15/6. Khi kế hoạch được đưa ra quá muộn, việc mua sắm, in và giao sách trước khai giảng trở nên bất khả thi; nhà trường, doanh nghiệp phát hành và phụ huynh nhận những tín hiệu không thống nhất, dẫn đến thừa, thiếu cục bộ.

Một nghịch lý không thể coi là bình thường