Cần cơ chế để trí thức phản biện chính sách thực chất hơn

Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, cho rằng cần đổi mới mạnh mẽ nhằm phát huy hiệu quả trí tuệ đội ngũ trí thức trong hoạch định chính sách, quy hoạch.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có mức thu nhập cao vào năm 2045. Theo TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đổi mới toàn diện mô hình tăng trưởng, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành những động lực then chốt.

Hoạt động phản biện vẫn còn nặng tính hình thức

Trong quá trình đó, quy hoạch, xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ tạo lập không gian và nền tảng vật chất cho tăng trưởng mà còn tác động trực tiếp đến năng suất của nền kinh tế.

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những hạn chế về chất lượng quy hoạch, tính đồng bộ và liên kết của hạ tầng; thời gian, chi phí thực hiện một số dự án còn lớn. Ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu; hiệu quả sử dụng đất đai, năng lượng và tài nguyên còn hạn chế.

anh-chup-man-hinh-2026-09-08-luc-085709.png
TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

TS Đặng Việt Dũng nhận định đây là những điểm nghẽn đối với mục tiêu phát triển nhanh, xanh và bền vững. Vì vậy, việc phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức thông qua tư vấn, phản biện chính sách, quy hoạch và dự án đầu tư là yêu cầu cần thiết.

Theo TS Đặng Việt Dũng, trong nhiệm kỳ VIII, Tổng hội Xây dựng Việt Nam đã phát huy thế mạnh trong hoạt động tư vấn, phản biện, tập hợp chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ thực tiễn trong các lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, giao thông vận tải, thủy lợi.

Đội ngũ này đã tham gia góp ý nhiều dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn, đề án và dự án lớn liên quan đến quy hoạch, phát triển đô thị, nhà ở, thị trường bất động sản, chất lượng công trình và kết cấu hạ tầng.

Hoạt động tư vấn, phản biện từng bước được đổi mới theo hướng đa dạng, chủ động hơn, tập trung vào xây dựng luật, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn và giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn.

Tuy nhiên, theo TS Đặng Việt Dũng, hoạt động tư vấn, phản biện chính sách, đề án, dự án vẫn còn không ít khó khăn. Một trong những vấn đề đáng chú ý là cơ chế, chính sách chưa theo kịp yêu cầu mới.

Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã nhấn mạnh việc tạo điều kiện, khuyến khích đội ngũ trí thức tham gia tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với các quyết định, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng.

Tiếp đó, Nghị quyết số 107/NQ-CP ngày 9/7/2024 của Chính phủ giao các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND các tỉnh, thành phố hoàn thiện quy chế, cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cho các tổ chức trí thức thực hiện tư vấn, phản biện và giám định xã hội.

Dù vậy, khung pháp lý nền tảng hiện vẫn là Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 11/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính. Theo TS Đặng Việt Dũng, Thông tư 11 đã ban hành hơn 10 năm và hiện không còn phù hợp với tình hình thực tế. Một hạn chế khác là việc lấy ý kiến phản biện tại một số nơi còn mang tính hình thức.

TS Đặng Việt Dũng cho rằng tư vấn, phản biện phải cung cấp thêm những luận cứ khoa học độc lập, khách quan cho cơ quan quản lý và chủ đầu tư trong quá trình xây dựng, thẩm định, phê duyệt chính sách, chương trình, đề án, dự án.

Thế nhưng trên thực tế, việc lấy ý kiến có trường hợp diễn ra gấp gáp, tài liệu cung cấp chưa đầy đủ, nội dung cần phản biện chưa được xác định rõ. Đặc biệt, khi có ý kiến khác nhau, chưa phải lúc nào cũng có cơ chế trao đổi, phản hồi hai chiều.

Theo ông, việc thiếu nguồn kinh phí phục vụ đánh giá đối chứng cũng là một hạn chế, trong khi ở một số trường hợp còn xuất hiện tâm lý “bỏ qua”, “né tránh” khi tổ chức lấy ý kiến tư vấn, phản biện.

5 nhóm giải pháp để phản biện đi vào thực chất

TS Đặng Việt Dũng cũng chỉ ra hạn chế trong việc tập hợp và huy động đội ngũ trí thức.

Hiện còn thiếu cơ chế nhận diện, lựa chọn, kết nối và đánh giá chuyên gia phù hợp với từng nhiệm vụ. Cơ sở dữ liệu chuyên gia chưa đầy đủ, chưa được cập nhật thường xuyên; chưa có thước đo phù hợp để đánh giá trí thức thông qua kết quả hoạt động tư vấn, phản biện.

Việc huy động chuyên gia đôi khi còn phụ thuộc vào các mối quan hệ sẵn có, chưa bao quát được chuyên gia trẻ, chuyên gia tại địa phương, doanh nghiệp và trí thức Việt Nam ở nước ngoài.

Bên cạnh đó, kinh phí và chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Lực lượng chuyên gia thường xuyên tham gia phản biện còn mỏng, chất lượng đóng góp giữa các lĩnh vực chưa đồng đều.

Đáng chú ý, TS Đặng Việt Dũng cho rằng, một bộ phận chuyên gia còn tâm lý nể nang hoặc chưa thể hiện đầy đủ tính độc lập và bản lĩnh nghề nghiệp trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm.

Từ thực tiễn hoạt động của Tổng hội Xây dựng Việt Nam, TS Đặng Việt Dũng đề xuất 5 nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tư vấn, phản biện trong nhiệm kỳ IX.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và cơ chế đặt hàng. Theo ông, cần rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các quy định về hoạt động tư vấn, phản biện; trước mắt nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg và ban hành thông tư thay thế Thông tư số 11/2015/TT-BTC về cơ chế tài chính.

Cơ chế mới cần xác định rõ những chính sách, chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án quan trọng cần có sự tham gia tư vấn, phản biện độc lập của Liên hiệp Hội Việt Nam và các hội thành viên.

Đặc biệt, hoạt động phản biện cần được thực hiện từ sớm, ngay từ giai đoạn xác định vấn đề, xây dựng nhiệm vụ và lựa chọn phương án, thay vì chờ đến khi dự thảo hoặc dự án đã cơ bản hoàn thành.

Cùng với đó là cơ chế tài chính phù hợp với tính chất, quy mô và độ phức tạp của từng nhiệm vụ; đồng thời thiết lập cơ chế trao đổi, đối thoại và phản hồi hai chiều, trong đó cơ quan chủ trì có trách nhiệm giải trình việc tiếp thu hoặc không tiếp thu các kiến nghị.

Thứ hai, chủ động phản biện những vấn đề lớn. Theo TS Đặng Việt Dũng, cần đẩy mạnh cả phản biện theo yêu cầu và phản biện chủ động. Liên hiệp Hội Việt Nam cùng các hội thành viên cần chủ động phát hiện, đề xuất những vấn đề lớn, có tác động trực tiếp đến sự phát triển đất nước và đời sống nhân dân.

Thay vì phân tán nguồn lực vào nhiều hoạt động nhỏ, nên tập trung vào những nhiệm vụ có tầm ảnh hưởng lớn, liên ngành, liên vùng để nghiên cứu chuyên sâu và đưa ra kiến nghị có cơ sở khoa học, thực tiễn.

Đối với lĩnh vực xây dựng, Tổng hội Xây dựng Việt Nam đề xuất quan tâm các vấn đề như chất lượng và tính liên kết của quy hoạch, hiệu quả đầu tư kết cấu hạ tầng, năng suất ngành xây dựng, phát triển đô thị xanh, thông minh, nhà ở xã hội, vật liệu và công nghệ xây dựng mới, giảm phát thải, phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ ba, xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia dùng chung. TS Đặng Việt Dũng đề xuất sớm hình thành cơ sở dữ liệu chuyên gia được số hóa, cập nhật thường xuyên và phân loại theo lĩnh vực chuyên môn, trình độ, kinh nghiệm, địa bàn hoạt động, năng lực chủ trì và kết quả tham gia các nhiệm vụ tư vấn, phản biện.

Cơ sở dữ liệu này cần trở thành công cụ để lựa chọn đúng chuyên gia cho từng nhiệm vụ, thay vì chỉ dừng ở việc lập danh sách.

Cùng với đó, cần xây dựng tiêu chí đánh giá chuyên gia dựa trên kết quả và chất lượng tham gia; từng bước hình thành các nhóm chuyên gia có sự tham gia của trí thức trẻ, chuyên gia doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, hội địa phương và trí thức Việt Nam ở nước ngoài.

Thứ tư, đổi mới quy trình tư vấn, phản biện. Cần xây dựng quy trình khung phù hợp với từng loại chính sách, quy hoạch, chương trình và dự án; quy định rõ thời gian cung cấp hồ sơ, thành phần hồ sơ bắt buộc, nội dung lấy ý kiến và trách nhiệm giải trình.

Theo TS Đặng Việt Dũng, cần lập báo cáo theo dõi việc tiếp thu kiến nghị, đồng thời gắn quy trình tư vấn, phản biện với ứng dụng công nghệ số.

Ông cũng đề xuất cơ chế đặt hàng nhiệm vụ phản biện độc lập, có sự cạnh tranh công khai giữa các tổ chức khoa học, viện nghiên cứu và trường đại học.

Thứ năm, tăng cường phối hợp và bảo đảm nguồn lực. Theo đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp thường xuyên giữa Liên hiệp Hội Việt Nam với các hội ngành toàn quốc, Liên hiệp Hội địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp để trao đổi thông tin, xác định nhiệm vụ, huy động chuyên gia và tổ chức phản biện liên ngành.

Mối quan hệ giữa các hội ngành toàn quốc và Liên hiệp Hội địa phương cần được tăng cường theo hướng hai chiều, tránh tình trạng phối hợp chỉ diễn ra khi hồ sơ đã cơ bản hoàn tất. Bên cạnh nguồn ngân sách nhà nước, cần nghiên cứu huy động và sử dụng minh bạch các nguồn lực hợp pháp khác.

Để trí thức đóng góp trực tiếp vào hoạch định chính sách

Theo TS Đặng Việt Dũng, trong giai đoạn phát triển mới, tư vấn, phản biện không chỉ là chức năng quan trọng của Liên hiệp Hội Việt Nam và các hội thành viên mà còn là phương thức thiết thực để đội ngũ trí thức đóng góp trực tiếp, hiệu quả vào quá trình hoạch định và thực thi các chủ trương, chính sách lớn của đất nước.

Với vai trò hội thành viên, Tổng hội Xây dựng Việt Nam cam kết tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, tính độc lập và thế mạnh chuyên môn của đội ngũ trí thức trong các lĩnh vực quy hoạch, xây dựng, giao thông vận tải và thủy lợi.

Tổng hội cũng sẽ chủ động phối hợp với Liên hiệp Hội Việt Nam, các hội thành viên và cơ quan quản lý nhà nước để đề xuất, tham gia những nhiệm vụ tư vấn, phản biện có ý nghĩa thiết thực.

TS Đặng Việt Dũng tin tưởng rằng, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và những đổi mới mạnh mẽ trong nhiệm kỳ IX, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vai trò tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ đội ngũ trí thức khoa học, công nghệ, đóng góp ngày càng hiệu quả vào mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh, xanh, thông minh và bền vững.

Quy hoạch đô thị Việt Nam: Từ phản biện sang tư vấn chủ động

KTS. Trần Ngọc Chính cho rằng tư duy quy hoạch cần chuyển từ cách tiếp cận tương đối tĩnh sang linh hoạt, thích ứng...

Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, chuyển đổi số, mô hình chính quyền địa phương hai cấp và biến đổi khí hậu đặt ra những yêu cầu mới, KTS. Trần Ngọc Chính cho rằng, tư duy quy hoạch cần chuyển từ cách tiếp cận tương đối tĩnh sang linh hoạt, thích ứng; từ dựa chủ yếu trên hiện trạng và dự báo sang dựa trên dữ liệu; từ phát triển đơn ngành sang tích hợp đa ngành, liên vùng.

Tham luận của KTS Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, trình bày tại Đại hội IX Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Muốn nâng giá trị nông sản, phải làm chủ giống cây trồng

Theo GS.VS. Trần Đình Long, khoa học, công nghệ và đội ngũ trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao năng lực tự chủ về giống.

Chia sẻ tại Đại hội IX Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), GS.VS. Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam cho rằng một trong những thành tựu nổi bật của nông nghiệp Việt Nam những năm gần đây là vừa bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm, vừa từng bước nâng cao vị thế nông sản trên thị trường quốc tế.

img-1984.jpg
GS.VS. Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam. Ảnh: Mai Loan.

Phát triển hệ sinh thái thông tin khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Để chuyển hóa tri thức khoa học thành sức sản xuất trực tiếp, Việt Nam không thể thiếu một “hạ tầng mềm” vững chắc, đó là hệ sinh thái thông tin KHCN&ĐMST.

Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống tại Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031, TS Trần Văn Tùng – Chủ tịch Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, trong kỷ nguyên số và nền kinh tế tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KHCN&ĐMST) đã trở thành động lực then chốt, quyết định năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.

Hình thành nền tảng dữ liệu khoa học, công nghệ