Doanh nhân lớn cần một thể chế khuyến khích những khát vọng lớn
- Việt Nam đã huy động được nhiều nguồn lực hơn so với thời kỳ đầu Đổi mới, nhưng vì sao nguồn lực chưa chuyển hóa đầy đủ thành động lực tăng trưởng? Theo ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay?
Việt Nam hôm nay không còn là nền kinh tế nghèo vốn như ở thời điểm bắt đầu Đổi mới. Thị trường tài chính đã lớn mạnh, vốn đầu tư xã hội, đầu tư nước ngoài và tích lũy tài sản đều tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, có nguồn lực không đồng nghĩa với việc nguồn lực đó đã trở thành vốn phục vụ phát triển.
Đất đai vướng mắc pháp lý có thể là tài sản có giá trị nhưng chưa chuyển hóa được thành vốn. Một sáng chế không định giá được khó trở thành tài sản góp vốn. Tiền tiết kiệm nếu chủ yếu chảy vào những tài sản mang tính đầu cơ sẽ không tạo thêm tương ứng năng lực sản xuất. Một dự án hạ tầng có hiệu quả kinh tế cao nhưng thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp vẫn khó thu hút vốn tư nhân.
Vì vậy, điểm nghẽn phát triển không chỉ nằm ở việc thiếu tiền, mà còn ở những cơ chế khiến nguồn lực chưa thể phát huy đầy đủ giá trị và dòng vốn chưa dễ dàng tìm đến nơi tạo ra hiệu quả cao nhất.
Theo tôi, điều quan trọng là phải nâng cao khả năng chuyển hóa, lưu chuyển và phân bổ vốn của nền kinh tế. Thể chế tốt không tạo ra nguồn lực từ hư không, nhưng có thể giúp những nguồn lực đang tồn tại được nhận diện, định giá, giao dịch và sử dụng hiệu quả hơn.
- Ông cho rằng Việt Nam cần chuyển từ tư duy huy động vốn sang nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Sự thay đổi này đòi hỏi những cải cách gì để doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn lực và phát triển dài hạn?
Trong phần lớn chặng đường Đổi mới, Việt Nam là một nền kinh tế thiếu vốn. Vì vậy, câu hỏi lớn của chính sách phát triển là làm thế nào để huy động được nhiều vốn hơn. Tăng tín dụng, thu hút FDI, khuyến khích đầu tư tư nhân, đẩy mạnh đầu tư công và phát triển thị trường chứng khoán đều góp phần trả lời câu hỏi đó.
Nhưng khi nền kinh tế bước sang một trình độ phát triển cao hơn, câu hỏi cũng phải thay đổi. Không chỉ là "huy động được bao nhiêu vốn, mà còn là mỗi đồng vốn tạo ra bao nhiêu giá trị?".
Điều này đòi hỏi phải nâng cao chất lượng phân bổ nguồn lực, đồng thời phát triển một cấu trúc tài chính đa dạng hơn. Ngân hàng phù hợp với những nhu cầu vốn nhất định; thị trường trái phiếu đáp ứng các khoản đầu tư dài hạn; thị trường cổ phiếu giúp chia sẻ rủi ro; còn vốn mạo hiểm có thể đồng hành với những ý tưởng có tiềm năng đột phá nhưng chưa chắc chắn về kết quả.
Không một kênh tài chính nào có thể đáp ứng mọi nhu cầu vốn. Phát triển thị trường vốn không phải để thay thế ngân hàng, mà để mỗi loại dự án được tài trợ bằng nguồn vốn phù hợp với thời hạn và mức độ rủi ro.
Đối với doanh nghiệp, điều quan trọng không chỉ là có thêm vốn, mà còn là được hoạt động trong một môi trường mà những ý tưởng tốt, phương án kinh doanh hiệu quả và năng lực sáng tạo có cơ hội tiếp cận nguồn lực. Khi đó, vốn mới thực sự trở thành động lực nâng cao năng suất và sức cạnh tranh.
Đối với doanh nhân, quyết định đầu tư không chỉ dựa trên cơ hội sinh lời mà còn phụ thuộc vào khả năng dự đoán môi trường kinh doanh, bảo vệ thành quả đầu tư và thực hiện các cam kết. Ảnh minh họa
- Quyết định đầu tư của doanh nhân phụ thuộc vào đâu, thưa ông?
Vốn luôn tìm kiếm lợi nhuận, nhưng cũng đặc biệt nhạy cảm với sự bất định. Khi quyền tài sản được bảo vệ, hợp đồng được thực thi, chính sách có khả năng dự đoán và cạnh tranh được bảo đảm bình đẳng, nhà đầu tư sẽ giảm được phần rủi ro phải tính thêm vào chi phí vốn.
Theo nghĩa đó, niềm tin cũng là một loại vốn. Niềm tin càng cao, nguồn lực càng sẵn sàng đi vào đầu tư dài hạn thay vì tìm kiếm những nơi trú ẩn ngắn hạn.
Đối với doanh nhân, quyết định đầu tư không chỉ dựa trên cơ hội sinh lời mà còn phụ thuộc vào khả năng dự đoán môi trường kinh doanh, bảo vệ thành quả đầu tư và thực hiện các cam kết. Một môi trường thể chế ổn định, minh bạch sẽ giúp doanh nghiệp mạnh dạn hơn khi theo đuổi những dự án dài hạn, đầu tư vào công nghệ và mở rộng hoạt động.
Vì vậy, cần xác lập rõ ràng quyền tài sản, nâng cao tính minh bạch, bảo đảm thực thi hợp đồng và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng. Đây không chỉ là điều kiện để thu hút vốn, mà còn là nền tảng để nuôi dưỡng khát vọng kinh doanh và tinh thần đầu tư của doanh nhân.
Mở đường cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và cạnh tranh bằng năng lực
- Trong nền kinh tế ngày càng dựa vào công nghệ và đổi mới sáng tạo, làm thế nào để không chỉ ưu tiên doanh nghiệp có nhiều tài sản thế chấp, mà còn tạo cơ hội cho những doanh nghiệp có ý tưởng và tiềm năng tăng trưởng tốt?
Một nền kinh tế công nghiệp truyền thống chủ yếu dựa vào tài sản hữu hình để tiếp cận vốn. Nhưng trong nền kinh tế tri thức, giá trị ngày càng được tạo ra từ những yếu tố khó đem thế chấp như công nghệ, phần mềm, bằng sáng chế, dữ liệu, thương hiệu và tài năng con người.
Nếu chỉ nhìn vào nhà xưởng và bất động sản để quyết định cho vay, những doanh nghiệp sáng tạo nhất đôi khi lại là những doanh nghiệp khó tiếp cận vốn nhất.
Vì vậy, cần phát triển mạnh hơn các kênh vốn cổ phần, vốn mạo hiểm và những cơ chế tài chính phù hợp với tài sản trí tuệ. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế xác lập quyền tài sản, định giá và khai thác những tài sản này, để chúng có thể tham gia thực chất hơn vào quá trình huy động vốn.
Điều quan trọng là phải tạo ra một môi trường trong đó doanh nghiệp có thể phát triển dựa trên năng lực sáng tạo, chất lượng công nghệ và triển vọng kinh doanh, chứ không chỉ dựa vào quy mô tài sản sẵn có.
Muốn hình thành những doanh nghiệp có khả năng mở ra ngành công nghiệp mới và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Việt Nam cần tạo điều kiện để những ý tưởng có giá trị được tiếp cận nguồn lực và phát triển thành sản phẩm, công nghệ, thương hiệu cụ thể.
Nhiệm vụ của thể chế không chỉ là tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động, mà còn phải khuyến khích những người có năng lực dám nghĩ lớn, dám đổi mới và dám chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.
- Theo ông, cần tạo ra cơ chế như thế nào để vốn, đất đai, lao động và các nguồn lực khác dịch chuyển từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang những doanh nghiệp, dự án có năng suất cao hơn?
Một nền kinh tế chỉ thực sự năng động khi nguồn lực có thể rời khỏi nơi sử dụng kém hiệu quả để đến nơi sử dụng hiệu quả hơn. Điều này đòi hỏi cạnh tranh thực chất, kỷ luật thị trường và cơ chế xử lý phá sản hiệu quả.
Doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả trong thời gian dài không chỉ làm mất nguồn lực của chính mình, mà còn giữ lại đất đai, tín dụng, lao động và những cơ hội mà các chủ thể hiệu quả hơn có thể sử dụng tốt hơn.
Bởi vậy, giải phóng sức mạnh của vốn không có nghĩa là bảo đảm vốn cho mọi dự án hay mọi doanh nghiệp. Ngược lại, vốn phải có quyền nói "không" với những nơi sử dụng kém hiệu quả và có khả năng nói "có" với những ý tưởng tốt dù chúng chưa sở hữu nhiều tài sản hữu hình.
Đích đến của cải cách vì thế có thể diễn đạt rất giản dị: để vốn tìm được đúng người, đúng dự án, đúng thời điểm và với mức giá phản ánh đúng rủi ro.
Muốn có doanh nhân lớn, phải nuôi dưỡng khát vọng cống hiến
-Theo ông, cần những điều kiện gì để Việt Nam hình thành một thế hệ doanh nhân có khát vọng cống hiến, tầm nhìn lớn và năng lực dẫn dắt nền kinh tế?
Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy những bước nhảy vọt về kinh tế luôn gắn với sự xuất hiện của các doanh nhân có tầm nhìn lớn. Họ không chỉ xây dựng những doanh nghiệp có tầm vóc toàn cầu mà còn góp phần mở ra những ngành công nghiệp mới, tạo dựng công nghệ, thương hiệu và năng lực cạnh tranh cho quốc gia.
Muốn hiện thực hóa khát vọng phát triển, Việt Nam cần nuôi dưỡng một thế hệ doanh nhân có tầm nhìn vượt lên trước thời đại, có khát vọng cống hiến và bản lĩnh theo đuổi những mục tiêu lớn.
Tuy nhiên, những doanh nhân như vậy không thể trưởng thành chỉ bằng ý chí cá nhân. Họ cần một thể chế khuyến khích đổi mới sáng tạo, một môi trường cạnh tranh công bằng và một xã hội biết trân trọng, đồng hành với những người dám mở đường.
Một doanh nhân muốn đầu tư vào công nghệ mới, phát triển sản phẩm mới hay xây dựng thương hiệu trên thị trường quốc tế phải chấp nhận rủi ro và theo đuổi những mục tiêu dài hạn. Nếu môi trường kinh doanh thiếu tính dự đoán, quyền tài sản không được bảo vệ đầy đủ hoặc cơ hội cạnh tranh không bình đẳng, những khát vọng lớn sẽ khó chuyển hóa thành kết quả thực tế.
Vì vậy, nhiệm vụ của thể chế không chỉ là tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động, mà còn phải khuyến khích những người có năng lực dám nghĩ lớn, dám đổi mới và dám chịu trách nhiệm với lựa chọn của mình.
Khi những điều kiện đó hội tụ, Việt Nam không chỉ có thêm nhiều doanh nghiệp thành công mà quan trọng hơn, sẽ có thêm những ngành công nghiệp, công nghệ và năng lực cạnh tranh mới để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước.
Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi trên!

