Đài TST (Nga) đăng bài viết có tiêu đề "Sóng ngầm giáng đòn vào NATO: Thổ Nhĩ Kỳ chặn hạm đội đồng minh".
Theo đó, các bộ chỉ huy phương Tây gia tăng sức ép lên Thổ Nhĩ Kỳ nhằm mở đường cho tàu khu trục tiến về phía đông. Bucharest chuẩn bị 4 tỷ euro nâng cấp căn cứ ven biển lớn nhất NATO, nhưng Ankara vẫn giữ chặt cửa ngõ Biển Đen.
NATO có căn cứ, máy bay, tên lửa và tiềm lực hải quân lớn. Nhưng tại Biển Đen, khả năng triển khai lực lượng của liên minh phụ thuộc vào Thổ Nhĩ Kỳ. Chừng nào Ankara chưa mở rộng cửa Bosphorus và Dardanelles, Washington cùng các đồng minh châu Âu chưa thể tùy ý đưa tàu vào khu vực.
NATO càng muốn biến Biển Đen thành tuyến đầu đối đầu, vai trò của Thổ Nhĩ Kỳ càng nổi bật.
Quyền kiểm soát các eo biển của Thổ Nhĩ Kỳ là chốt chặn quan trọng đối với kế hoạch tăng cường hiện diện hải quân NATO tại Biển Đen. Ảnh minh họa (TST)
Sợi xích vẫn còn, nhưng giờ mang hình hài pháp lý
Constantinople từng được bảo vệ bằng một sợi xích căng ngang lối vào cảng. Trong cuộc vây hãm năm 1453, quân Ottoman phải tìm cách vượt qua chướng ngại này. Ngày nay, vai trò ngăn chặn ấy được ví với Công ước Montreux năm 1936, hiệp ước trao cho Thổ Nhĩ Kỳ quyền kiểm soát đặc biệt đối với tàu chiến qua các eo biển.
Với những nước không giáp Biển Đen, công ước quy định giới hạn về trọng tải và thời gian tàu được lưu lại. Trong thời chiến, Thổ Nhĩ Kỳ có quyền ngăn tàu chiến của các bên tham chiến đi qua theo các điều khoản của công ước.
Bosphorus vì thế không chỉ là dải nước hẹp giữa châu Âu và châu Á, mà còn chi phối cục diện quân sự khu vực.
Câu hỏi không đơn thuần là NATO có bao nhiêu tàu ngoài khơi Romania và Bulgaria, mà là Ankara cho phép bao nhiêu tàu đi qua, với điều kiện nào.
Ankara nắm giữ chìa khóa
Sau khi xung đột Ukraine bùng phát, Thổ Nhĩ Kỳ viện dẫn Công ước Montreux để hạn chế tàu chiến của các bên tham chiến qua eo biển. Nga cũng chịu bất lợi: Moscow không thể tự do đưa tàu từ các hạm đội khác tới tăng viện cho Hạm đội Biển Đen.
Với NATO, tư cách đồng minh của Ankara không đồng nghĩa Washington và London có thể đưa lực lượng lớn từ Địa Trung Hải vào bất cứ lúc nào. Mọi kế hoạch đều phải tính đến cơ chế quản lý eo biển và lập trường Thổ Nhĩ Kỳ.
Ankara vì vậy không chỉ tham gia thảo luận chính sách Biển Đen của NATO, mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng triển khai hải quân của liên minh.
Mỹ coi Biển Đen là địa bàn gây sức ép lên Nga và hỗ trợ sườn phía đông NATO. Romania và Bulgaria muốn tăng cường an ninh, thúc đẩy hạ tầng cảng biển, cơ sở quân sự và tập trận chung.
Tuy nhiên, xây căn cứ trên bờ khác với bảo đảm một lực lượng hải quân mạnh hiện diện lâu dài. Phần đáng kể sức mạnh hải quân Mỹ và châu Âu lại nằm ngoài Biển Đen.
Các chiến hạm không thể “nhảy qua” Bosphorus. Hành trình của chúng chịu quy định quốc tế, trong khi Ankara có tính toán riêng về mức độ hiện diện của các cường quốc bên ngoài.
Trở ngại không chỉ mang tính pháp lý, mà còn nằm ở khác biệt chính trị.
Mỹ muốn có thêm quyền tự do hành động. Các đồng minh Đông Âu mong Washington tăng hiện diện. Những thủ đô châu Âu phải cân nhắc nguy cơ đối đầu trực tiếp với Nga. Còn Thổ Nhĩ Kỳ không muốn Biển Đen trở thành nơi hải quân nước ngoài hiện diện thường xuyên.
Những tính toán ấy khiến việc thống nhất đường lối NATO phức tạp hơn các tuyên bố tại hội nghị thượng đỉnh.
Ankara không rời liên minh, mà giữ quyền quyết định cách thực thi cơ chế quản lý eo biển. Với Thổ Nhĩ Kỳ, đây là vấn đề chủ quyền; với NATO, đó là giới hạn; còn với Nga, đây là lợi thế bổ sung.
Ankara dưới thời Tổng thống Recep Tayyip Erdogan kiên trì bảo vệ lợi ích riêng, buộc NATO phải tính đến lập trường Thổ Nhĩ Kỳ trong các kế hoạch tại Biển Đen. Ảnh minh họa (TST).
Vì sao tình thế này có lợi cho Moscow?
Không nên hiểu Ankara đóng eo biển “vì Nga”. Bản thân Thổ Nhĩ Kỳ cũng không muốn hải quân Mỹ và Anh hiện diện thường trực gần bờ biển, bởi điều đó có thể thu hẹp không gian theo đuổi chính sách độc lập.
Dù vậy, kết quả vẫn phù hợp với lợi ích Moscow. Thứ nhất, khả năng tăng cường đột ngột lực lượng NATO bằng các hạm đội lớn từ bên ngoài Biển Đen bị hạn chế.
Thứ hai, NATO khó nhanh chóng điều thêm tàu vào khu vực. Thứ ba, ngay trong nội bộ liên minh xuất hiện thêm một khâu phải thống nhất: mọi kế hoạch tăng cường hải quân đều cần tính đến lập trường của Ankara.
Đối với Nga, điều này không có nghĩa là mối đe dọa biến mất, mà là mối đe dọa tồn tại trong một thế bố trí có lợi hơn cho Moscow. Đối phương vẫn có tên lửa, không quân, máy bay không người lái, hạ tầng trên bộ và tàu chiến của các quốc gia ven Biển Đen.
Song, một trong những kịch bản leo thang tiềm tàng — sự xuất hiện nhanh chóng của một lực lượng tàu chiến lớn đến từ các nước không giáp Biển Đen — vẫn bị hạn chế.
“Cái bẫy” Thổ Nhĩ Kỳ đối với NATO
Chính sách Biển Đen của NATO vì thế chứa đựng nghịch lý: liên minh muốn củng cố sườn phía đông, trong khi một thành viên chủ chốt hạn chế khả năng tăng viện từ biển.
Romania và Bulgaria có thể xây thêm căn cứ, nâng cấp hạ tầng và tăng chi tiêu quốc phòng. Nhưng giữa Địa Trung Hải và Biển Đen vẫn là Bosphorus. Giữa quyết định của Washington và hành trình của chiến hạm vẫn có vai trò kiểm soát của Ankara.
NATO càng muốn tăng hiện diện, càng phải thương lượng với Thổ Nhĩ Kỳ. Ankara càng kiên trì đường lối riêng, liên minh càng phải điều chỉnh kế hoạch theo lợi ích của nước này.
Với Nga, điểm đáng chú ý là bất đồng ấy bắt nguồn từ cấu trúc khu vực và lợi ích của các thành viên NATO, không nhất thiết do hoạt động ngoại giao của Moscow tạo ra.
Công ước Montreux không đóng cửa Biển Đen đối với toàn bộ hải quân NATO, cũng không khiến Nga bất khả xâm phạm. Romania và Bulgaria vẫn có thể củng cố bờ biển, trong khi các thành viên NATO ven Biển Đen duy trì lực lượng riêng.
Giá trị của quyền kiểm soát eo biển nằm ở việc hạn chế một kịch bản cụ thể: các nước không giáp Biển Đen không thể tùy ý biến khu vực thành nơi hiện diện thường trực của những hạm đội lớn.
Hình ảnh sợi xích thời trung cổ vì thế trở thành phép so sánh với hiện tại. Thay cho những mắt xích sắt là giới hạn pháp lý của một hiệp ước quốc tế cùng quyền kiểm soát của Thổ Nhĩ Kỳ.
NATO phải thương lượng với đồng minh đang nắm chìa khóa cửa ngõ hàng hải. Nga hưởng lợi từ việc các hạm đội bên ngoài không được tự do tiếp cận Biển Đen và từ bất đồng trong liên minh. Ankara vẫn theo đuổi lợi ích riêng, nhưng khi những lợi ích ấy trùng với Moscow, Nga vẫn có thể tận dụng tình thế.
