Hồi ức của đại tá Nguyễn Hữu Tài về ngày giải phóng Thủ đô

Từ ký ức ngày 10/10/1954, đại tá Nguyễn Hữu Tài bày tỏ niềm tự hào về Hà Nội và tin tưởng thế hệ trẻ sẽ tiếp bước cha anh, đưa đất nước phát triển.

Trò chuyện với PV Báo Tri thức và Cuộc sống, Đại tá Nguyễn Hữu Tài, nguyên Phó Cục trưởng Cục Quân huấn, Bộ Tổng tham mưu, từng công tác tại Bộ Tư lệnh Pháo binh, một trong những đơn vị tham gia tiếp quản Thủ đô ngày 10/10/1954, không giấu được xúc động khi nhắc lại thời khắc trở về Hà Nội sau những năm tháng kháng chiến. Trong ký ức của người lính từng trải qua Chiến dịch Điện Biên Phủ, ngày trở về không chỉ có niềm vui chiến thắng, mà còn là sự trở về thay cho những đồng đội đã nằm xuống, là những kỷ niệm về tình quân dân và tinh thần kỷ luật nghiêm minh của người lính.

nguyen-huu-tai-9979.png
Đại tá Nguyễn Hữu Tài. Ảnh: Mai Loan.

Niềm vui xen lẫn nghẹn ngào ngày trở về Hà Nội

Nhắc đến ngày 10/10/1954, ông Tài nhớ câu thơ của nhà thơ Chính Hữu trong bài thơ “Ngày về” viết trước lúc rời Hà Nội năm 1947: “Nhớ đêm ra đi, đất trời bốc lửa/Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng”.

Trước khi tiếp quản Thủ đô, Đại tá Nguyễn Hữu Tài là Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị lập nhiều chiến công, hoàn thành các nhiệm vụ cấp trên giao và được tặng cờ thi đua “Quyết chiến, quyết thắng” của Bác Hồ. Trung đoàn tham gia tiêu diệt cứ điểm Him Lam cùng Trung đoàn 141, đồng thời đánh chiếm đồi D trong trận tiến công lần thứ hai. Đây là ngọn đồi cao nhất thuộc dãy đồi phía Đông của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nơi hiện đặt Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ.

nguyen-huu-tai.png
Sáng 10/10/1954, các cánh quân của Quân đội nhân dân Việt Nam từ các cửa ô vào tiếp quản Thủ đô trong rừng cờ hoa đón chào của hàng vạn người dân Hà Nội. Ảnh tư liệu TTXVN.

Trong trận đánh đồi D, ông Tài được điều xuống một tiểu đoàn, tổ chức chiến đấu phòng ngự tại đây gần một tháng. Bộ đội liên tục đánh bại các cuộc phản kích của địch, giữ vững trận địa.

Trận đánh cuối cùng là trận tiêu diệt cứ điểm 507, thuộc cụm cứ điểm Eliane của địch, cách cầu Mường Thanh khoảng 100 m. Sau khi tiêu diệt cứ điểm này, đơn vị có thời cơ phát triển tiến công vào Sở Chỉ huy địch, đặt tại hầm chỉ huy của tướng De Castries, góp phần bắt sống viên tướng này. Đó là một trong những chiến công của đơn vị trước ngày giải phóng Thủ đô.

Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Tài được điều lên biên giới Cao Bằng làm nhiệm vụ tiếp nhận vũ khí viện trợ. Hoàn thành việc tiếp nhận, ông bàn giao số vũ khí cho một đơn vị khác. Sau đó, Bộ Tư lệnh Pháo binh cùng Đại đoàn 308 nhận nhiệm vụ về tiếp quản Thủ đô. Cuối năm 1954, các đơn vị tiếp tục đóng quân tại những vị trí xung quanh Hà Nội.

Ông Tài cho hay, ngày ấy những người ra đi đều mong có ngày trở lại. Nhưng chiến tranh đâu cho tất cả mọi người thực hiện được mong ước ấy. Nhiều người đã nằm lại trên các chiến trường, đặc biệt tại Điện Biên Phủ. Trong số những người không trở về có cả những người bạn của ông.

Bởi thế, khi được trở lại Hà Nội, cảm xúc trong ông vừa là niềm vui của người chiến thắng, vừa có sự nghẹn ngào. Ông nghĩ đến những người đã cùng mình đi qua những năm tháng gian khổ nhưng không còn cơ hội nhìn thấy ngày hòa bình. Những người còn sống được trở về, được đứng giữa thành phố thân yêu, cũng là trở về thay cho đồng đội của mình.

“Được trở về Hà Nội là niềm vinh dự, tự hào, niềm vui bất tận, bởi chúng tôi còn được trở về thay cho những người đã nằm xuống”, Đại tá Nguyễn Hữu Tài xúc động chia sẻ.

Tin tưởng thế hệ trẻ tiếp bước cha anh, dựng xây Hà Nội, đất nước vững mạnh

Khi tiếp quản Thủ đô, ông Tài là Trưởng ban Tuyên huấn Bộ Tư lệnh Pháo binh. Nhiệm vụ chính của ông là triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến các đơn vị pháo binh, đồng thời theo dõi việc thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và quân đội đối với nhân dân ở vùng mới giải phóng.

Công việc sau tiếp quản của ông là theo dõi tình hình hằng ngày của bộ đội xem đời sống, sinh hoạt, tiếp xúc với nhân dân như thế nào và báo cáo lên Tổng cục Chính trị về các hoạt động của quân đội khi ở trong thành phố.

nguyen-huu-tai-2257.png
Sáng 10/10/1954, quân ta tiến vào giải phóng Hà Nội trong rừng cờ hoa rực rỡ, trong tiếng reo hò của hàng chục vạn đồng bào. Ảnh tư liệu

Trước ngày tiếp quản Thủ đô, tất cả cán bộ, chiến sĩ đều phải học 10 điều kỷ luật và 8 chính sách đối với vùng mới giải phóng. Những quy định này giúp bộ đội hiểu rõ trách nhiệm của mình, đồng thời để nhân dân thấy sự khác biệt giữa quân đội ta với các lực lượng chiếm đóng: nghiêm túc chấp hành kỷ luật, thân ái với đồng bào, gần gũi với nhân dân và không vi phạm những điều đã được quán triệt. Tinh thần kỷ luật rất nghiêm và cũng là kỷ luật rất tự giác.

Có một kỷ niệm ông nhớ mãi, đó là khi ra Bờ Hồ, lúc ngồi nghỉ trên ghế đá, ông và đồng đội đã gặp một cháu bé bán kem chào mời. Dù rất khát nước và đã 8 năm không được ăn kem, ai cũng thèm, nhưng ông cùng đồng đội vẫn không mua, không ăn để chấp hành nghiêm kỷ luật khi vào thành. Bởi do bộ đội được quán triệt kỷ luật không ăn uống, mua bán trong vùng mới giải phóng.

Giữ nghiêm kỷ luật, nhưng trong tâm hồn những người lính trẻ vẫn giữ sự lãng mạn của tuổi trẻ. Một trong những hình ảnh khiến ông cũng đặc biệt nhớ, đó là vẻ đẹp các thiếu nữ Hà Nội. Những người lính rời Hà Nội độ tuổi 18, đôi mươi vẫn “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” và bồi hồi nhớ những “đôi mắt nào”, như trong lời bài hát Người Hà Nội của nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi. Chiến tranh không dập tắt nét lãng mạn, hào hoa nơi họ.

Ở chiến trường, xung quanh chỉ màu xanh cây, núi, về Hà Nội, đón những người lính là đủ các màu sắc rực rỡ, trong đó, có màu của các tà áo dài xanh, đỏ, tím, điều đó, khiến những người lính vừa lạ lẫm, vừa bị cuốn hút.

“Mỗi khi bước lên xe đạp, các thiếu nữ vắt tà áo dài lên qua xe đạp, quyến rũ vô cùng. Thời điểm ấy, chúng tôi còn rất trẻ chưa lập gia đình”, ông Tài nhớ lại.

Hơn 70 năm đã trôi qua, giờ đây mỗi lần ra phố, ngắm nhìn thành phố thân yêu, ông Tài cảm thấy vô cùng tự hào. “Theo tôi, mỗi thế hệ đều có nhiệm vụ riêng. Thế hệ chúng tôi có nhiệm vụ chiến đấu, giải phóng Thủ đô, giải phóng đất nước. Còn thế hệ trẻ hôm nay được học hành tốt hơn, có trình độ cao hơn về khoa học, công nghệ và nhiều lĩnh vực khác. Tôi tin tưởng các bạn trẻ sẽ đưa đất nước ngày càng phát triển, từng bước vươn lên ngang tầm các quốc gia phát triển trên thế giới”, ông Tài bộc bạch.

Bạn có thể quan tâm

Ký ức không phai của đại tá Nguyễn Trọng Vĩnh trong ngày tiếp quản Thủ đô

Năm 1954, ở tuổi 20, Nguyễn Trọng Vĩnh cùng 14 giáo sinh từ Trung Quốc trở về tham gia tiếp quản Hà Nội, mở đầu hành trình gắn bó với sự nghiệp giáo dục.

Đại tá, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1934 tại Hải Phòng. Mồ côi cha mẹ từ năm 13 tuổi vì chiến tranh, ông sớm tham gia kháng chiến, làm liên lạc cho du kích rồi công tác tại các cơ quan Đảng ở Hải Phòng. Tháng 12/1951, ông được Thành ủy Hải Phòng cử đi học văn hóa tại chiến khu Việt Bắc, sau đó chuyển sang học sư phạm tại Khu học xá Trung ương ở Nam Ninh (Trung Quốc).

ngnd-nguyen-trong-vinh.jpg
Đại tá, NGND Nguyễn Trọng Vĩnh. Ảnh: Mai Loan.

Bác sĩ Trần Duy Hưng: Dấu ấn một đời vì Hà Nội

Trở về tiếp quản Thủ đô ngày 10/10/1954, bác sĩ Trần Duy Hưng tiếp tục hành trình cống hiến, cùng Hà Nội khôi phục đời sống, xây dựng thành phố.

Ngày 10/10/1954, BS Trần Duy Hưng dẫn đầu đoàn quân trở về tiếp quản Thủ đô với trọng trách Phó Chủ tịch Ủy ban Quân chính. Sau đó, ngày 4/11/1954, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội. Ông đã đảm nhiệm cương vị này cho đến khi nghỉ hưu năm 1977. Dưới sự lãnh đạo chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Trần Duy Hưng, Thủ đô đã trở thành hậu phương vững mạnh, góp sức cùng cả nước hoàn thành công cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất non sông.

bs-tranduyhung.jpg
BS Trần Duy Hưng. Ảnh tư liệu.

PGS Nguyễn Hoành Khung: Người làm đẹp, làm sang cho văn chương

Không chỉ uyên bác, PGS.NGND Nguyễn Hoành Khung còn chinh phục nhiều thế hệ học trò bằng những bài giảng tài hoa, hóm hỉnh và cách nhìn sâu sắc về văn chương.

Lời Tòa soạn: Những năm đầu giải phóng Thủ đô (1954), trước yêu cầu phát triển khoa học cần có một nền giáo dục đại học phát triển, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2183/TC ngày 04/06/1956 thành lập 5 trường đại học là: Đại học Tổng hợp, Đại học Bách khoa, Đại học Sư phạm, Đại học Y - Dược, Đại học Nông - Lâm.

Trong chặng đường 70 năm xây dựng và phát triển của các trường đại học (riêng Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã có lịch sử 75 năm), nhiều thế hệ nhà giáo, nhà khoa học đã vượt qua những năm tháng gian khó, vừa giảng dạy, nghiên cứu, vừa góp sức xây dựng trường, đào tạo những lớp trí thức tài năng cho đất nước. Tri thức và Cuộc sống khởi đăng loạt bài “Những nhà khoa học, những người thầy” nhằm tôn vinh những tên tuổi đã góp phần làm nên diện mạo và vị thế của khoa học, giáo dục Việt Nam, đồng thời lan tỏa những giá trị mà họ để lại cho các thế hệ hôm nay.