Chuyên gia: Phần lớn cổ phiếu đang ở vùng định giá rẻ nhất 5 năm, nhưng chưa phải lúc dễ "kiếm tiền"

Chuyên gia ACBS dự báo thị trường sẽ đi ngang trong biên độ hẹp từ 1.700-1.900 trong các tháng cuối năm, với nền định giá thấp khi so với trung bình 5 năm gần đây.

Thị trường chứng khoán đã chính thức được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp của FTSE Russell, cùng với đó nền kinh tế 3 quý đầu năm 2026 vẫn đang tăng trưởng tích cực, tạo đà cho giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, lãi suất trên toàn cầu đang ở mức cao, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) cũng đã thực hiện tăng lãi suất trở lại lần đầu sau 3 năm, trong khi ở trong nước lãi suất cũng không còn thấp, khiến cho các nhà đầu tư vẫn đang trở nên khá thận trọng.

Trao đổi về vấn đề này trong Talk show Phố Tài chính (The Finance Street Talk show) Bà Đỗ Minh Trang, Giám đốc Phân tích và Chiến lược thị trường, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) cho rằng, dù có khả năng lợi nhuận nhiều doanh nghiệp giảm do môi trường lãi suất không còn thấp, nhưng cơ hội đầu tư trên thị trường vẫn hiện hữu nếu chắt lọc kỹ càng. Theo đó, các nhóm như ngân hàng, dầu khí, bảo hiểm, cùng nhóm sản xuất điện và cảng biển được kỳ vọng là những nhóm ngành nhiều tiềm năng trong bối cảnh mới, khi nhóm ngành này đang có lợi thế về mức định giá hấp dẫn và có đà tăng trưởng tốt bám sát sự phục hồi của nền kinh tế.

Như bà cũng đã thấy thị trường chứng khoán đã chính thức được nâng hạng, bước vào một giai đoạn phát triển mới, theo bà, cơ hội dành cho các doanh nghiệp niêm yết vào giai đoạn mới như thế nào?

Bà Đỗ Minh Trang: Sự kiện nâng hạng, theo công bố của FTSE, tỷ trọng của thị trường Việt Nam trong rổ FTSE EM sẽ mất 1 năm để giải ngân toàn bộ. Trong đó, tháng 9 vừa rồi, tỷ lệ giải ngân mới chỉ là 10%. Tới tháng 3/2027, giải ngân tiếp 15%, tháng 6/2027 là 30% và tháng 9/2027 là 35%. Như vậy, phải mất 1 năm thì Việt Nam mới được phản ánh đầy đủ vào chỉ số này.

Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, dường như nhà đầu tư nước ngoài vẫn chưa chủ động giải ngân mạnh sau sự kiện nâng hạng. Chúng ta vẫn thấy tình trạng bán ròng của các NĐT nước ngoài, dù đà bán ròng đã giảm khá nhiều trong những ngày qua. Giải thích cho hiện tượng này, chúng tôi thấy có 2 lý do. 

Thứ nhất là tỷ trọng thị trường Việt Nam trong chỉ số FTSE EM không lớn. Vì vậy, các quỹ ETF – là nhóm NĐT chưa có áp lực phải mua toàn bộ tỷ trọng ngay lập tức để tuân thủ tỷ trọng của chỉ số. Thứ hai là bối cảnh FED nâng lãi suất thêm 0,25% trong cuộc họp tháng 9 vừa qua, dẫn tới môi trường lãi suất cao đối với USD và các ngoại tệ mạnh khác, tiếp tục gây bất lợi cho dòng tiền vào các thị trường mới nổi.

Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng, xét về bức tranh tổng quát, sau sự kiện nâng hạng, chúng ta vẫn đang đứng trước những cơ hội rất lớn. Vì theo thời gian, trong vòng 1 năm tới, khi tỷ trọng thị trường Việt Nam gia tăng trong rổ chỉ số, việc giải ngân là tất yếu. Và chúng tôi cho rằng, điểm rơi phù hợp có lẽ vào khoảng cuối quý 1 đầu quý 2/2027, khi tỷ lệ giải ngân của thị trường Việt Nam sẽ phải đạt khoảng 65% tỷ trọng quy định. Bên cạnh đó, các quỹ chủ động sẽ quan tâm tới thị trường Việt Nam khi hội tụ được các yếu tố phù hợp với triết lý đầu tư của họ, ví dụ như ổn định vĩ mô, tỷ giá, định giá hấp dẫn, lượng hàng hóa phong phú, và các nút thắt về hạ tầng, luân chuyển vốn đầu tư tiếp tục được cải thiện.

Thời điểm này cũng hết quý III, bước sang quý IV/2026, bức tranh kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết như thế nào và liệu có đủ sức hấp dẫn nhà đầu tư trong bối cảnh mới không thưa bà?

Bà Đỗ Minh Trang: Nói về lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết, chúng tôi thường nói về lợi nhuận của các nhóm ngành lớn, đóng góp chủ yếu tới lợi nhuận của toàn bộ VN-INDEX. Ví dụ như ngành ngân hàng, bất động sản, chứng khoán, bán lẻ. Trước khi bàn về lợi nhuận của từng nhóm ngành, tôi muốn nhấn mạnh một vấn đề rằng, môi trường lãi suất 3 quý đầu năm 2026 đã cao đáng kể so với năm 2025 (+ 1,3% về bình quân lãi suất huy động và + 1,1% bình quân lãi suất cho vay). Bối cảnh lãi suất cao tác động kém tích cực tới lợi nhuận của hầu hết các nhóm ngành.

Đơn cử như ngành ngân hàng, thường chiếm khoảng hơn 30% vốn hóa toàn thị trường, và khoảng 50% lợi nhuận toàn thị trường, có KQKD quý 3/2026 kém tích cực hơn so với quý 2/2026, mặc dù vẫn ghi nhận sự tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chính vẫn là chi phí huy động tăng nhanh và tăng mạnh hơn lãi suất cho vay ra trong bối cảnh thiếu hụt nguồn vốn trung – dài hạn và nhu cầu tăng trưởng tín dụng trong tương lai vẫn khá lớn.

Tiếp theo là ngành bất động sản, ngành này là một ẩn số, vì một số đại diện sẽ chi phối toàn bộ xu hướng lợi nhuận của ngành. Vì vậy, biến động từ các nhóm này sẽ ảnh hưởng mạnh tới kết quả lợi nhuận của ngành BĐS. Nhưng theo quan sát của chúng tôi, với việc thị trường BĐS khá trầm lắng trong thời gian qua, do ảnh hưởng của lãi suất cao, triển vọng lợi nhuận của nhóm này không tích cực, nếu không có các giao dịch bán sỉ.

Thứ ba là nhóm chứng khoán, nhóm chứng khoán cũng được dự báo sẽ có 1 quý kinh doanh không mấy tích cực. Mặc dù quy mô cho vay margin tiếp tục tăng lên, nhưng mức tăng chậm lại so với năm 2025. Bên cạnh đó, nền lãi suất cao khiến biên lãi suất margin bị thu hẹp lại. Lợi nhuận từ thu phí giao dịch bị ảnh hưởng mạnh do thanh khoản thị trường sụt giảm nghiêm trọng trong quý 3/2026. Diễn biến đi ngang trong biên độ hẹp của VN INDEX cũng khiến cơ hội kiếm lợi nhuận từ hoạt động tự doanh của các CTCK bị ảnh hưởng.

Cuối cùng là nhóm bán lẻ, đây là nhóm thường có kết quả khá tích cực và duy trì được mức tăng trưởng ổn định trong nhiều năm, kể từ sau giai đoạn Covid. Tuy nhiên, quý 3 năm nay, chúng tôi nghĩ sẽ có sự phân hóa giữa các doanh nghiệp do các vấn đề pháp lý.

Mặc dù bức tranh trong nước đang có nhiều điểm sáng, kinh tế tăng trưởng đều qua các quý, tuy nhiên trên thế giới lãi suất đang tăng cao, đặc biệt cục dự trữ liên bang Mỹ Fed lần đầu tiên tăng lãi suất trở lại sau 3 năm, bà nhận xét như thế nào về các yếu tố này?

Bà Đỗ Minh Trang: Xung đột ở Trung Đông đã dẫn tới giá nguyên liệu tăng cao, từ đó đẩy giá các mặt hàng khác và tạo ra áp lực đối với lạm phát trên toàn cầu. Vì vậy, để đối phó với vấn đề lạm phát, các quốc gia lớn lần lượt tăng lãi suất điều hành trong thời gian qua. 

Kể từ đầu năm 2026, NHTW của các nước lớn đã quay trở lại tăng lãi suất do áp lực từ lạm phát. Ví dụ như NHTW Châu Âu đã tăng 2 lần, tổng cộng 0,5%, đưa lãi suất điều hành lên 2,5%. Ngân hàng TW Nhật cũng vậy, tăng từ 0,75% lên 1,25%. Riêng Mỹ mới chỉ tăng 1 lần vào tháng 9 vừa qua, thêm 0,25% lên 3,75-4,0%. Tuy nhiên, nền lãi suất của Mỹ hiện đang cao sẵn và chưa kịp giảm kể từ sau giai đoạn tăng hậu Covid. Lãi suất cho vay mua nhà của Mỹ đang ở mức từ 6-7% tùy từng kỳ hạn cố định lãi suất. Đây là một mức rất cao, và đánh thẳng vào thu nhập của các hộ gia đình.

Xung đột địa chính trị khó có thể dứt điểm trong ngắn hạn, vì vậy, lạm phát cao dai dẳng sẽ là rủi ro trong trung hạn chứ không chỉ còn trong ngắn hạn. Từ đó, nền lãi suất cao của USD và các ngoại tệ mạnh sẽ kéo dài, dư địa hạ lãi suất của VNĐ cũng bị hạn chế. Với môi trường lãi suất cao như vậy, chi phí vốn của các doanh nghiệp sẽ tăng dần, khả năng sinh lời bị thu hẹp lại theo thời gian. Chi phí vốn ở đây không chỉ liên quan tới VNĐ, mà cả chi phí đi huy động vốn ngoại tệ, ví dụ các khoản vay hợp vốn, trái phiếu bằng ngoại tệ. Định giá đối với TTCK và các doanh nghiệp cũng bị điều chỉnh giảm tương ứng. Bên cạnh đó, lãi suất cao tại các thị trường phát triển cũng đồng nghĩa với việc dòng tiền đầu tư có xu hướng ra khỏi các thị trường mới nổi.

Một điều chúng tôi muốn lưu ý là lãi suất cao càng kéo dài lâu thì càng bào mòn sức khỏe của nền kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ bào mòn và mức độ sẽ phụ thuộc nhiều vào mức độ tăng của lãi suất.

Vậy theo bà, các yếu tố trên có làm ảnh hưởng đến đà tăng trưởng của các doanh nghiệp trong các quý tới không?

Bà Đỗ Minh Trang: Chúng tôi cho rằng, chúng ta không cần chờ tới quý V để thấy sự tác động của các yếu tố trên đối với tăng trưởng của các doanh nghiệp niêm yết. Có lẽ quý IV sẽ bộc lộ phần nào. Môi trường tài chính thắt chặt và nền lãi suất cao dai dẳng sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới KQKD của các doanh nghiệp. đặc biệt các doanh nghiệp thâm dụng vốn. Điều này bắt buộc các doanh nghiệp phải tái cấu trúc lại cơ cấu nợ, hoặc tạm thời ngừng mở rộng đầu tư dự án mới.

Trong bối cảnh thị trường được nâng hạng, kinh tế trong nước tăng trưởng nhưng các yếu tố rủi ro toàn cầu còn hiện hữu, bà dự báo như thế nào về thị trường trong thời gian tới?

Bà Đỗ Minh Trang: Theo tôi, từ giờ tới cuối năm 2026, thị trường sẽ đi ngang trong biên độ hẹp từ 1.700-1.900, với nền định giá thấp khi so với trung bình 5 năm gần đây, thanh khoản suy giảm và nhà đầu tư nước ngoài chưa mạnh mẽ giải ngân do các yếu tố đã chia sẻ ở trên.

Định giá rẻ nhất trong 5 năm với hầu hết các cổ phiếu và nhóm ngành, nhưng định giá rẻ chưa đủ, khi tăng trưởng lợi nhuận có thể đang bắt đầu suy yếu và dòng tiền cần cân nhắc nhiều yếu tố khác. Trong đó, chính lãi suất cao cũng là một yếu tố tác động lớn tới định giá doanh nghiệp.

Vậy theo bà đâu là nhóm ngành tiềm năng trong bối cảnh hiện nay? Vừa có nhiều cơ hội những cũng có những thách thức đến từ bên ngoài?

Bà Đỗ Minh Trang: Theo tôi, ngành ngân hàng đang có tiềm năng trung dài hạn vì đã ở mức định giá hấp dẫn, khả năng duy trì lợi nhuận ổn định và thuộc nhóm vốn hóa lớn, hưởng lợi khi nâng hạng. Kỳ vọng tăng trưởng tín dụng trong những năm tới vẫn ở quanh mức 15%. Vì vậy, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận của hệ thống vẫn có thể duy trì từ 10-15% trong vài năm tới. 

Tiếp theo là ngành dầu khí do nền giá dầu cao, đẩy mạnh đầu tư để đảm bảo an ninh lương thực, hưởng lợi từ những thay đổi chính sách dẫn tới thủ tục phê duyệt dự án và đầu tư thuận lợi hơn, tỷ lệ tài chính đẹp, tiền mặt nhiều. 

Bên cạnh đó, nhóm bảo hiểm vì lãi suất cao sẽ hỗ trợ tăng trưởng hiệu suất đầu tư vốn đóng góp chính trong hoạt động kinh doanh của các công ty bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ.

 Cuối cùng, nhóm sản xuất điện, nhóm cảng biển vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực do tăng trưởng về sản lượng điện đang rất tích cực theo đà tăng của GDP và xuất nhập khẩu.