Cà phê đang là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, với kim ngạch hàng tỷ USD mỗi năm. Trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ toàn cầu tiếp tục tăng, các doanh nghiệp nông nghiệp đang mở rộng vùng trồng và đa dạng hóa giống cà phê nhằm nâng cao giá trị sản phẩm.
Theo báo cáo ngày 17/8 của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên, cán bộ kỹ thuật của đơn vị đã trực tiếp khảo sát các vùng trồng cà phê của HAGL tại Gia Lai, Champasak và Attapeu (Lào), cùng Stung Treng (Campuchia) trong thời gian từ ngày 12–15/8/2026.
Tại huyện Paksong, tỉnh Champasak, các vùng trồng cà phê nằm trên cao nguyên Bolaven, ở độ cao khoảng 1.000–1.350 m so với mực nước biển. Khu vực này có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình khoảng 20–25 độ C, đất đỏ bazan giàu khoáng chất, thoát nước tốt và lượng mưa 2.000–3.500 mm mỗi năm. Đây là những điều kiện thuận lợi cho giống cà phê Arabica, còn gọi là cà phê chè, phát triển.
Các vườn Arabica tại Paksong được HAGL trồng từ tháng 4/2025, theo hình thức trồng thuần hoặc xen canh với sầu riêng, mắc ca và chuối. Sau hơn một năm, cây đạt chiều cao khoảng 80–100 cm, trung bình có 12–15 cặp cành và 12–15 đốt trên mỗi cành.
Khoảng 15–20% số cây đã bắt đầu cho quả trong vụ 2026, song sản lượng chưa đáng kể do vườn còn non. Viện đánh giá những diện tích Arabica trồng trong giai đoạn tháng 4–6/2025 tại Paksong có khả năng phân cành và các chỉ tiêu cấu thành năng suất tương tự những vườn trồng cùng thời điểm tại Gia Lai.
Tại Gia Lai, HAGL bắt đầu trồng Arabica từ tháng 5/2025, chủ yếu theo hình thức xen canh trong các vườn cao su. Đến thời điểm khảo sát, cây có chiều cao khoảng 80–100 cm, trung bình đạt 10–14 cặp cành và khoảng 12 đốt trên mỗi cành.
Theo dự báo của Viện, đến cuối năm 2026, cây có thể đạt trung bình 17 cặp cành, khoảng 10 đốt mang quả trên mỗi cành và 15 quả trên mỗi đốt.
Dựa trên các chỉ tiêu sinh trưởng tại thời điểm khảo sát, báo cáo kết luận các diện tích Arabica tại Gia Lai và Paksong có thể đạt mức 7,2 kg quả/cây trong vụ 2027. Đây là mức dự kiến dựa trên tình trạng sinh trưởng của cây, không phải sản lượng đã được ghi nhận trong vụ thu hoạch.
Tại Stung Treng, Campuchia, HAGL trồng Robusta từ tháng 10/2025 và Liberica từ tháng 5–6/2026. Kết quả khảo sát cho thấy cây Robusta hiện cao khoảng 50–80 cm, đạt 6–10 cặp cành mỗi cây. Trong khi đó, Liberica cao khoảng 30–50 cm và có 5–7 cặp lá.
HAGL đang triển khai kế hoạch phát triển khoảng 20.000 ha cà phê tại Việt Nam, Lào và Campuchia đến năm 2028. Doanh nghiệp cho biết đã hoàn thành khoảng 3.000 ha trong năm 2025, triển khai thêm 7.000 ha trong năm 2026 và dự kiến mở rộng thêm 5.000 ha mỗi năm trong giai đoạn 2027-2028.
Diễn biến mở rộng vùng trồng diễn ra trong bối cảnh xuất khẩu cà phê Việt Nam tiếp tục tăng về sản lượng, dù kim ngạch chịu tác động từ giá xuất khẩu giảm.
Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, trong tháng 8/2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 128.000 tấn cà phê, trị giá 572 triệu USD. So với tháng 7, lượng xuất khẩu giảm khoảng 14% và giá trị giảm 11%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, lượng tăng 52% và kim ngạch tăng 24%.
Lũy kế 8 tháng đầu năm, xuất khẩu cà phê đạt khoảng 1,33 triệu tấn, trị giá 6 tỷ USD. Sản lượng tăng gần 14% nhưng kim ngạch giảm khoảng 9% so với cùng kỳ năm 2025, chủ yếu do giá xuất khẩu bình quân giảm.
Trong các thị trường tiêu thụ, châu Âu tiếp tục giữ vai trò quan trọng. Xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn như Đức, Italy, Tây Ban Nha và Bỉ tăng về lượng. Tại châu Á, nhu cầu từ Trung Quốc và Nhật Bản có tín hiệu tích cực, trong khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ cũng ghi nhận mức tăng đáng kể.
Riêng 8 tháng, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ khoảng 96.000 tấn cà phê, trị giá 408 triệu USD, tăng lần lượt 46% về lượng và 14% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.