Ba trang quân sự nước ngoài chú ý điều gì ở pháo Việt Nam?
Trong tháng 10/2026, MilitaryLeak, Defense Studies và Conflictora đồng loạt đưa tin về PTH-130 và PTH-152. Các bài viết đề cập cả kết quả thử nghiệm lẫn cấu hình khí tài.
MilitaryLeak nhấn mạnh hai dự án của Việt Nam đã hoàn thành thiết kế, chế tạo và tổng lắp, đồng thời trải qua thử nghiệm cơ động cùng các đợt bắn thử ban đầu đạt yêu cầu. Trang này cũng đề cập việc tiếp tục hoàn thiện độ ổn định, độ tin cậy để phục vụ đánh giá, nghiệm thu.
Trong khi đó, Defense Studies đề cập về kết quả thử nghiệm và lưu tâm tới công tác chuẩn bị cho sản xuất loạt. Trang tin Conflictora thì thể hiện sự chú ý đặc biệt tới cấu hình pháo trên khung gầm KamAZ, nhất là cabin bọc giáp và tháp pháo xoay của PTH-152.
Thượng tướng Phạm Hoài Nam và đoàn công tác Bộ Quốc phòng kiểm tra các hệ thống pháo tự hành do Việt Nam nghiên cứu, chế tạo, ngày 14/10/2026. (Ảnh: Báo Quân đội nhân dân)
Nếu MilitaryLeak và Defense Studies tập trung vào tiến độ phát triển, Conflictora bổ sung góc nhìn về cấu hình khí tài.
Sự quan tâm này cho thấy năng lực chế tạo vũ khí của Việt Nam đang trở thành một nội dung đáng chú ý trong dòng thông tin quân sự quốc tế. Điều khiến PTH-130 và PTH-152 đáng bàn nằm ở quá trình các đơn vị trong nước đưa thiết kế thành những hệ thống có thể hoạt động trên thao trường.
Từ hành trình của Serbia nhìn lại thành quả Việt Nam
PTH-152 do Tổng công ty Công nghiệp công nghệ cao Viettel chủ trì, còn PTH-130 do Học viện Kỹ thuật Quân sự chủ trì. Theo thông tin công bố sau cuộc kiểm tra ngày 14/10, mỗi đề tài đã hoàn thành chế tạo, tổng lắp một hệ thống; thử nghiệm cơ động và một số đợt bắn cho kết quả đạt yêu cầu.
Kết quả ấy đánh dấu một bước tiến về năng lực chế tạo: các đơn vị Việt Nam đã đưa hai hệ thống từ thiết kế tới giai đoạn vận hành, cơ động và thử nghiệm thực tế.
PTH-130 sử dụng pháo M-46 cỡ 130 mm, còn PTH-152 sử dụng pháo D-20 cỡ 152 mm. Tận dụng hỏa lực sẵn có giúp khai thác trang bị hiện hữu, nhưng để phát triển thành hệ thống tự hành, các đơn vị vẫn phải giải quyết đồng thời những yêu cầu về cơ động, độ ổn định khi khai hỏa và điều khiển hỏa lực.
Để thấy rõ hơn khối lượng công việc phía sau kết quả này, có thể nhìn vào NORA, dòng pháo đã đưa Serbia tới thị trường xuất khẩu. Chương trình cũng có điểm khởi đầu gắn với D-20, trước khi trải qua nhiều giai đoạn phát triển để hình thành sản phẩm tự hành.
Pháo tự hành NORA trong đợt huấn luyện quân nhân Vệ binh Quốc gia Cyprus tại Serbia. Dòng pháo này đã được Cyprus đưa vào sử dụng. (Ảnh: Bộ Quốc phòng Serbia/Yugoimport)
Trong nghiên cứu công bố năm 2011, Anastas Paligorić, người từng phụ trách chương trình, cho biết Nam Tư mua D-20 cùng tài liệu thiết kế của Liên Xô để làm cơ sở phát triển pháo kéo NORA-A. Chương trình bắt đầu năm 1976, sau đó mở rộng sang các phương án tự hành.
Theo tài liệu trên Scientific Technical Review năm 2017, nhóm nghiên cứu từng cân nhắc khung gầm xe tăng, phương tiện bánh lốp chuyên dụng và xe tải địa hình. Phương án pháo trên xe tải được lựa chọn sau khi đánh giá hiệu quả so với chi phí. Mẫu hoạt động NORA-B được thử nghiệm cuối năm 1990, tiếp tục khắc phục những điểm chưa đạt trong năm 1991.
Quá trình này sau đó gián đoạn do khó khăn về kinh phí. Đến năm 2003, Yugoimport mới khôi phục chương trình; việc phát triển, chế tạo và bàn giao lô NORA-B52 đầu tiên tiếp đó mất khoảng năm năm. Qua nhiều phiên bản, NORA dần trở thành sản phẩm có khách hàng nước ngoài.
Bộ Quốc phòng Serbia xác nhận NORA-B52 M15 vào biên chế quân đội nước này đầu năm 2019. Thông tin Yugoimport năm 2024 cũng ghi nhận Vệ binh Quốc gia Cyprus đã sử dụng dòng pháo này và cử quân nhân sang Serbia huấn luyện, bắn đạn thật.
Hành trình NORA cho thấy việc phát triển pháo tự hành có thể kéo dài nhiều năm, qua nhiều lần thử nghiệm và chỉnh sửa. Với Việt Nam, kết quả bắn thử PTH-130 và PTH-152 đạt yêu cầu cho thấy các đơn vị trong nước đã vượt qua những bài toán kỹ thuật để đưa sản phẩm vào hoạt động thực tế, tạo tiền đề hướng tới sản xuất và trang bị.
Việt Nam đầu tư cho chặng đường tự chủ vũ khí
Đáng lưu ý, bên cạnh kết quả kỹ thuật, nguồn vốn cũng có vai trò quan trọng trong việc đưa sản phẩm tới sản xuất.
Hành trình phát triển NORA từng bị gián đoạn do khó khăn về kinh phí. Còn với Việt Nam, quá trình hoàn thiện PTH-130 và PTH-152 đang diễn ra cùng với việc cụ thể hóa các chính sách đầu tư cho công nghiệp quốc phòng.
Nghị định 99/2025/NĐ-CP quy định bố trí ngân sách nhà nước cho các chương trình công nghệ chiến lược phục vụ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo vũ khí, đồng thời ưu tiên hạ tầng, trang thiết bị trọng điểm và đào tạo nhân lực.
Đoàn công tác Bộ Quốc phòng kiểm tra pháo tự hành PTH-130 ngày 14/10/2026, trong quá trình hoàn thiện sản phẩm để đánh giá, nghiệm thu. (Ảnh: Bộ Quốc phòng)
Phạm vi hỗ trợ tiếp tục được mở rộng sang khâu sản xuất thông qua Nghị định 103/2025/NĐ-CP, với chính sách ưu tiên vốn cho các dự án đủ điều kiện, từ nhà xưởng, dây chuyền công nghệ đến thiết bị đo kiểm, thử nghiệm.
Các cơ chế này hỗ trợ nhiều khâu trong quá trình phát triển sản phẩm: nghiên cứu có kinh phí triển khai, còn cơ sở chế tạo có điều kiện nâng cấp thiết bị và kiểm soát chất lượng. Với những hệ thống phức tạp như pháo tự hành, đầu tư đồng bộ có ý nghĩa thiết thực trong quá trình hoàn thiện nguyên mẫu và chuẩn bị sản xuất.
Theo thông tin Bộ Quốc phòng tháng 11/2025, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng đã đề xuất hai dự án tại Viện Vũ khí và Viện Công nghệ, nhằm tăng cường năng lực thử nghiệm vũ khí và phát triển hạ tầng, phòng thí nghiệm tính toán mô phỏng phục vụ thiết kế, chế tạo vũ khí tích hợp công nghệ cao.
Đây là những khâu trực tiếp hỗ trợ kiểm chứng thiết kế và hiệu chỉnh sản phẩm trước khi đưa vào sử dụng.
Có thể nói, với các chính sách đầu tư phù hợp và năng lực công nghệ ngày càng được nâng cao, Việt Nam đang từng bước làm chủ quá trình nghiên cứu, thiết kế và chế tạo những hệ thống vũ khí phức tạp, hướng tới nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, hiện đại.