Sáng 17/10, tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã trình bày Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch năm 2027. Theo báo cáo, kinh tế - xã hội Việt Nam đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trong bối cảnh thế giới diễn biến phức tạp, chuỗi cung ứng gián đoạn, lạm phát và giá nhiều mặt hàng chiến lược tăng mạnh.
GDP quý III tăng 9,95%, thu ngân sách ước đạt 3,06 triệu tỷ đồng
Tăng trưởng kinh tế duy trì xu hướng quý sau cao hơn quý trước, với GDP quý III tăng 9,95% và GDP 9 tháng tăng 9,01%, thuộc nhóm cao của khu vực và thế giới. Dự kiến Việt Nam đạt và vượt 14/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu trong năm 2026.
Có 12 trong tổng số 34 địa phương đạt mức tăng trưởng hai con số. Nhiều địa phương được dự báo vượt mục tiêu cả năm như Đồng Nai, Quảng Ninh, Ninh Bình, Khánh Hòa, Thái Nguyên, Hà Tĩnh và Tây Ninh.
Thu ngân sách nhà nước cả năm ước đạt 3,06 triệu tỷ đồng, tăng 14%, khoảng 360.000 tỷ đồng tiền thuế, phí đã được miễn, giảm hoặc gia hạn. Đến cuối năm 2026, nợ công dự kiến ở mức 33-34% GDP, nợ Chính phủ khoảng 32-33% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 28-29% GDP và bội chi ngân sách khoảng 4,1% GDP, nằm trong giới hạn an toàn.
Tỷ giá được giữ ổn định, trong khi thanh khoản của hệ thống tín dụng tiếp tục cải thiện. Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng thống nhất giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2% đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.
Báo cáo cho biết thị trường chứng khoán Việt Nam lần đầu tiên được nâng hạng, đồng thời Moody’s nâng triển vọng của Việt Nam từ “Ổn định” lên “Tích cực”. Các tổ chức quốc tế cũng đánh giá cao sức chống chịu và triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng tăng 4,52%. Trong bối cảnh giá dầu thô và nhiều mặt hàng tăng mạnh, Việt Nam vẫn bảo đảm nguồn cung xăng dầu và giữ giá ở mức thấp so với khu vực, đồng thời đáp ứng đủ nhu cầu điện mà không tăng giá.
Cả ba khu vực kinh tế đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực, trong đó công nghiệp và xây dựng tăng 11,21% trong 9 tháng, mức cao nhất kể từ năm 2015. Riêng sản xuất công nghiệp tăng 12,33%, còn ngành chế biến, chế tạo tăng gần 13% và tiếp tục giữ vai trò động lực quan trọng của nền kinh tế.
Nông nghiệp duy trì ổn định, trong khi thị trường trong nước và hoạt động du lịch tiếp tục khởi sắc. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng khoảng 13,1-13,6%.
Việt Nam đón 17,7 triệu lượt khách quốc tế trong 9 tháng, tăng 14,5% và đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Khách du lịch nội địa đạt 126 triệu lượt, còn tổng thu từ du lịch ước đạt 874.000 tỷ đồng.
Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch năm 2027 (Ảnh: VGP)
Xuất nhập khẩu ước đạt 1.110 tỷ USD, FDI đăng ký tăng hơn 76%
Hoạt động xuất nhập khẩu tăng 30,4% và tổng kim ngạch cả năm ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD. Riêng trong 9 tháng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 888 tỷ USD, gồm 434,3 tỷ USD xuất khẩu và 453,7 tỷ USD nhập khẩu.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 9 tháng đạt 3,11 triệu tỷ đồng, tăng 15,1%. Giải ngân đầu tư công đạt gần 643.000 tỷ đồng, tương đương 63% kế hoạch và cao hơn cùng kỳ gần 202.000 tỷ đồng.
Vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% và cao nhất kể từ năm 2021. Vốn FDI thực hiện đạt 21,1 tỷ USD, tăng 12,1%, tập trung nhiều vào các ngành chế biến, chế tạo, công nghệ cao, điện tử và bán dẫn.
Hoạt động doanh nghiệp tiếp tục khởi sắc khi gần 224.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường trong 9 tháng, cao hơn số doanh nghiệp rút lui. Cả năm ước có khoảng 1,11 triệu doanh nghiệp đang hoạt động.
Trong năm 2026, hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực; kiến tạo thể chế phát triển, tạo chuyển biến thực chất trong tổ chức thực thi theo tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW.
Chính phủ đã và đang trình Quốc hội nhiều luật, nghị quyết quan trọng với các cơ chế, chính sách đột phá hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh, nhất là: miễn, giảm thuế, nâng ngưỡng chịu thuế; cơ chế vượt trội huy động nguồn lực cho các vùng, cực tăng trưởng; chuyển từ hỗ trợ sang phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân; khơi thông nguồn lực đất đai, phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; xử lý triệt để, hiệu quả các vấn đề tồn đọng kéo dài, đặc biệt là các dự án về đất đai, năng lượng, y tế; hợp nhất 04 Chương trình mục tiêu quốc gia, tăng quyền chủ động cho địa phương.
Công tác cải cách thủ tục hành chính đã giúp giảm 53% thời gian và 55% chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp, được đánh giá là mức cắt giảm lớn nhất từ trước đến nay. Cùng với đó, 56 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đã được bãi bỏ, 14 ngành nghề được sửa đổi, 408 thủ tục được phân cấp từ Trung ương về địa phương, 673 thủ tục được đơn giản hóa, 697 thủ tục và 1.754 điều kiện kinh doanh được cắt giảm.
Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy liên kết vùng, khai thác không gian phát triển mới. Đến hết tháng 9, tổng cộng 4.688 dự án tồn đọng đã được xử lý hoặc có phương án xử lý, với tổng diện tích gần 196.000 ha và tổng mức đầu tư trên 3,2 triệu tỷ đồng. Về hạ tầng, Việt Nam hoàn thành thêm 395 km đường bộ cao tốc, đưa vào khai thác toàn tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông và khởi công đồng loạt 5 tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có nhiều chuyển biến tích cực gắn với giải quyết các bài toán lớn của quốc gia. Theo đó, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026 của Việt Nam xếp thứ 43 trong 139 quốc gia, tăng một bậc. Việt Nam đứng đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo trong tổng giao dịch thương mại hàng hóa.
Ngoài ra, các lĩnh vực văn hóa, xã hội được quan tâm, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống người dân được cải thiện. Không chỉ vậy, hiệu quả công tác quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó thiên tai, biến đổi khí hậu cũng dần được nâng cao. Đổi mới giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân được tích cực triển khai theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW và 72-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đồng thời, Quốc phòng, an ninh được củng cố, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển; đối ngoại và hội nhập quốc tế được triển khai toàn diện.
Bên cạnh những kết quả đạt được, báo cáo nhìn nhận nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Điều hành kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát tiếp tục chịu áp lực lớn; thị trường tiền tệ, tỷ giá chịu sức ép từ bên ngoài, trong khi mặt bằng lãi suất huy động và cho vay còn cao do nhu cầu vốn đầu tư lớn.
Khả năng tiếp cận đất đai và tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa còn khó khăn, còn cơ cấu xuất nhập khẩu chưa bền vững. Tăng trưởng kinh tế chưa lan tỏa đồng đều và một số vấn đề như ô nhiễm không khí, ngập úng, ùn tắc giao thông, cháy nổ, an ninh mạng, tội phạm công nghệ cao và ma túy chưa được xử lý triệt để.
Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trong năm 2027
Năm 2027 được xác định là năm tăng tốc, bứt phá, tạo đà, tạo thế và tạo lực để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn.
Trong tổng số 45 chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, GDP bình quân đầu người được đặt mục tiêu đạt 6.100 USD, còn CPI dự kiến tăng khoảng 4,5%. Năng suất lao động xã hội bình quân được kỳ vọng tăng 8,6%, trong khi tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm 1-1,5%.
Chính phủ dự kiến tăng thu ngân sách nhà nước khoảng 9,1% và triệt để tiết kiệm chi thường xuyên. Nguồn lực phát triển sẽ được đa dạng hóa thông qua phát hành các loại trái phiếu, vay ODA, huy động vốn tín dụng và nguồn lực tư nhân, tăng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp FDI tái đầu tư lợi nhuận tại Việt Nam.
Chính sách tín dụng sẽ tập trung vào sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, khoa học công nghệ và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mục tiêu giải ngân 100% vốn đầu tư công tiếp tục được đặt ra, đi kèm việc điều chuyển vốn từ nơi giải ngân thấp sang những dự án có tiến độ tốt và cần bổ sung nguồn lực.
Chính phủ định hướng phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước, ưu tiên công nghiệp nền tảng và công nghiệp hỗ trợ, đồng thời cơ cấu lại nông nghiệp theo chuỗi giá trị. Việt Nam cũng sẽ hình thành các trung tâm dịch vụ, logistics hiện đại và khu kinh tế đặc biệt, phát triển các ngành kinh tế biển mới, công nghiệp hàng hải và công nghiệp đóng tàu.
Đối với doanh nghiệp tư nhân, Chính phủ đặt mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển, nhất là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các “doanh nghiệp một người” và hộ kinh doanh sẽ được hỗ trợ chuyển đổi thành doanh nghiệp, trong khi đầu tư nước ngoài được thu hút có chọn lọc, gắn với chuyển giao công nghệ và liên kết thực chất với doanh nghiệp Việt Nam.
Về hạ tầng, Việt Nam sẽ hoàn thiện mạng lưới đường bộ cao tốc, đường ven biển và các tuyến kết nối liên vùng. Các dự án đường sắt quan trọng quốc gia, hệ thống cảng biển, vận tải thủy cùng hai cảng hàng không quốc tế Long Thành và Gia Bình sẽ tiếp tục được thúc đẩy.
Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, Chính phủ xác định đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực mới cho tăng trưởng. Việt Nam sẽ phát triển hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu và các nền tảng dùng chung, vận hành hiệu quả Trung tâm dữ liệu quốc gia, phủ sóng 5G và thí điểm 6G.
Về an sinh xã hội, năm 2027 cả nước phấn đấu hoàn thành khoảng 176.000 căn nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê. Chính phủ cũng đặt nhiệm vụ tiếp tục khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí, củng cố y tế cơ sở, y tế dự phòng, phát triển thị trường lao động và tạo việc làm bền vững.
Theo báo cáo, trọng tâm của năm 2027 không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà còn phải tạo lập nền tảng cho mô hình phát triển mới của đất nước. Trong mô hình này, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là các động lực chính, đi cùng với yêu cầu nâng cao năng lực nội tại, tính độc lập, tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế.